1. Các quy định về thương mại dịch vụ

Về thương mại dịch vụ được xây dựng theo mô hình của Hiệp định GATS của WTO. Hiệp định này định nghĩa thương mại dịch vụ theo bốn phương thức cung ứng:

1. Cung ứng dịch vụ qua biên giới (cung ứng dịch vụ từ lãnh thổ của bên này vào lãnh thổ của bên kia)

2. Tiêu dùng ở nước ngoài (cung ứng dịch vụ tại lãnh thổ của một bên cho người sử dụng dịch vụ của bên kia);

3. Hiện diện thương mại (một nhà cung ứng dịch vụ của một bên cung ứng một dịch vụ thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bên kia); và

4. Hiện diện của thể nhân (một nhà cung ứng dịch vụ của một bên cung ứng một dịch vụ bằng sự hiện diện của thể nhân trên lãnh thổ của bên kia). Các bên nhất trí dành MFN cho dịch vụ và các nhà cung ứng dịch vụ của nhau. Mỗi bên phải đảm bảo sự tiếp cận thị trường cho dịch vụ và các nhà cung ứng dịch vụ của bên kia theo đúng quy định trong biểu cam kết của mình. BTA cấm sáu loại hạn chế tiếp cận thị trường trong các ngành dịch vụ đã được quy định trong biểu cam kết, trong đó có: hạn chế số lượng nhà cung ứng dịch vụ; hạn chế tổng giá trị các giao dịch dịch vụ; hạn chế về tổng số lượng đầu ra của dịch vụ; và hạn chế về loại hình pháp nhân hay liên doanh thông qua đó dịch vụ được cung ứng. Ngoài ra, các bên đã đưa vào Phụ lục về dịch vụ tài chính, Phụ lục về dịch chuyển của thể nhân, và Phụ lục về viễn thông của Hiệp định GATS và các tài liệu tham chiếu viễn thông của WTO. 

2.Các quy định về đầu tư

BTA đặt ra các quy tắc nhằm khuyến khích đầu tư giữa hai nước. Các tiêu chuẩn chính về bảo hộ và khuyến khích đầu tư trong chương này là:

1. MFN;

2. NT;

3. Cấm trưng thu mà không bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và hiệu quả;

4. Quyền lựa chọn các nhân viên quản lí cấp cao;

 5. Chuyển vốn về nước;

6. Đảm bảo đối xử công bằng và thoả đáng, bảo vệ và an ninh đầy đủ, đối xử phù hợp với luật tập quán quốc tế, và không áp dụng các biện pháp tuỳ tiện và phân biệt đối xử

7. Cấm áp dụng các yêu cầu bị cấm về chuyển giao công nghệ và các TRIMs bị cấm. Về việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, chương này đưa ra nhiều lựa chọn cho nhà đầu tư, bao gồm tòa án hoặc cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư, hoặc bất kì thủ tục giải quyết tranh chấp nào đã được thoả thuận trước đó và giải quyết bằng trọng tài.

3. Tạo thuận lợi cho kinh doanh 

Cả hai bên cam kết phát triển quan hệ đầu tư và tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh liên quan tới thương mại hàng hoá và dịch vụ. Mỗi bên đồng ý: - Cho phép các công dân và công ty của bên kia được nhập khẩu và sử dụng, phù hợp với các thực tiễn thương mại thông thường, thiết bị văn phòng và các thiết bị khác, như máy chữ, máy photocopy, máy tính, máy fax liên quan đến việc tiến hành các hoạt động của họ trên lãnh thổ của mình; - Tùy thuộc vào pháp luật và thủ tục của mình về nhập cảnh và các cơ quan đại diện nước ngoài, cho phép các công dân và các công ty của bên kia được tiếp cận và sử dụng nơi làm việc và nơi ở trên cơ sở không phân biệt đối xử và theo giá thị trường; - Tùy thuộc vào pháp luật, quy định và thủ tục của mình về nhập cảnh và các cơ quan đại diện nước ngoài, cho phép các công dân và công ty của bên kia thuê các đại lí, nhà tư vấn và nhà phân phối của một trong hai bên cho hoạt động sản xuất và đầu tư của họ, theo giá cả và điều kiện được thoả thuận giữa các bên. - Cho phép các công dân và công ty của bên kia quảng cáo các sản phẩm và dịch vụ của họ (i) bằng cách thoả thuận trực tiếp với các tổ chức thông tin quảng cáo, bao gồm đài truyền hình, đài phát thanh, đơn vị kinh doanh in ấn và bảng hiệu; và (ii) bằng cách gửi thư trực tiếp, bao gồm cả việc sử dụng các phong bì thư và bưu thiếp được ghi sẵn địa chỉ đến công dân hoặc công ty đó; - Khuyến khích sự tiếp xúc và cho phép mua bán hàng hoá và dịch vụ trực tiếp giữa các công dân và công ty của bên kia với người sử dụng cuối cùng và các khách hàng khác, và khuyến khích liên hệ trực tiếp với các cơ quan, tổ chức mà quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đến khả năng bán hàng; - Cho phép các công dân và các công ty của bên kia tiến hành nghiên cứu thị trường trên lãnh thổ của mình một cách trực tiếp hoặc thông qua hợp đồng; - Cho phép các công dân và công ti của bên kia được dự trữ đầy đủ hàng mẫu và phụ tùng thay thế phục vụ dịch vụ sau bán hàng đối với các sản phẩm của đầu tư; và - Cho phép các công dân và công ty của bên kia tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ do chính phủ cung cấp, bao gồm các tiện ích công cộng, trên cơ sở không phân biệt đối xử và theo giá cả công bằng và thoả đáng (và trong mọi trường hợp, không cao hơn giá áp cho các công dân và công ty của các nước thứ ba, khi các giá đó được quy định hoặc kiểm soát bởi chính phủ liên quan đến hoạt động của các hiện diện thương mại của họ).

4. Các quy định liên quan đến tính minh bạch và quyền khiếu kiện

Các bên có nghĩa vụ công bố định kì và kịp thời tất cả các luật, quy định và thủ tục hành chính có tính áp dụng chung, liên quan đến bất kì vấn đề nào được quy định trong BTA. Ở mức độ có thể, mỗi bên cho phép bên kia và các công dân của bên kia cơ hội đóng góp ý kiến đối với việc xây dựng pháp luật, quy định và thủ tục hành chính đó. Mỗi bên cũng cho phép các công dân và công ty của bên kia được tiếp cận dữ liệu về nền kinh tế quốc dân và từng ngành kinh tế, kể cả những thông tin về ngoại thương. Mỗi bên giao cho một tạp chí chính thức đăng tất cả các biện pháp có tính áp dụng chung và sẽ điều hành một cách thống nhất, vô tư và hợp lí các biện pháp đó. Hai bên sẽ duy trì các cơ quan tài phán hành chính và tư pháp, nhằm xem xét và sửa đổi nhanh chóng các quyết định hành chính liên quan đến các vấn đề được quy định tại Hiệp định này, và sẽ cho phép người bị tác động bởi quyết định có liên quan được quyền khiếu kiện mà không bị trừng phạt. Cuối cùng, các bên đảm bảo rằng các thủ tục cấp phép nhập khẩu, tự động và không tự động, được thực hiện theo cách thức minh bạch và có thể dự đoán trước được, và phù hợp với các tiêu chuẩn của Hiệp định của WTO về thủ tục cấp phép nhập khẩu (Hiệp định ILP).

5. Hiệp định dệt may Việt Nam-Hoa Kỳ 2003

Trong khuôn khổ BTA, ngày 25/4/2003, sau ba tuần đàm phán, Việt Nam và Hoa Kỳ đã kí Hiệp định dệt may song phương. Hiệp định này đặt ra hạn ngạch cho 38 loại sản phẩm may mặc nhập khẩu từ Việt Nam. Cả hai bên nhất trí hợp tác trong việc thực thi, bao gồm chia sẻ thông tin và tạo thuận lợi cho các chuyến thăm nhà máy, điều tra và phạt vi phạm. Hiệp định dệt may Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 1/5/2003 tới ngày 31/12/2004. Hiệp định có thể gia hạn hàng năm và đã được gia hạn hai lần vào năm 2004 và năm 2005. Điều 20 của Hiệp định quy định rằng khi Việt Nam gia nhập WTO, các quy định của WTO sẽ thay thế các quy định trong thoả thuận song phương. Hiệp định này đã hết hiệu lực khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1/2007.

Hiệp định khung về thương mại và đầu tư

Việt Nam-Hoa Kỳ 2007 Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, vào tháng 6/2007, Hiệp định khung về thương mại và đầu tư giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (viết tắt là TIFA) đã được kí kết nhằm thúc đẩy ‘môi trường đầu tư hấp dẫn’ và ‘mở rộng và đa dạng hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ’. TIFA thành lập Hội đồng thương mại và đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ, cơ quan xem xét rất nhiều vấn đề về quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai bên, bao gồm: - Thực thi các nghĩa vụ theo Hiệp định WTO và BTA; - Bảo hộ IPRs; - Các vấn đề chính sách gây tác động tới thương mại và đầu tư; - Thương mại dịch vụ; - Các vấn đề TBT; - Các vấn đề SPS; - Các vấn đề về quyền của người lao động được công nhận ở tầm quốc tế; - Các biện pháp khắc phục thương mại, bao gồm cả vấn đề coi Việt Nam là một nền kinh tế thị trường; - GSP; - Phối hợp trong các vấn đề về WTO và APEC mà hai bên cùng quan tâm; - Hỗ trợ kĩ thuật và xây dựng năng lực; và - Các lĩnh vực khác mà hai bên cùng quan tâm, nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế giữa các bên. Theo TIFA, Việt Nam và Hoa Kỳ tiến hành các cuộc họp và đối thoại thường xuyên để rà soát việc thực thi các cam kết WTO của Việt Nam, và xem xét các sáng kiến khác nhằm cải thiện quan hệ thương mại và đầu tư của hai bên. Hiệp định TIFA cùng với cơ chế mà Hiệp định thiết lập đã đặt nền tảng cho việc đàm phán các hiệp định toàn diện về thương mại và đầu tư giữa hai nước.

Các đàm phán đang tiến hành giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về các hiệp định thương mại và đầu tưVào tháng 6/2008, Việt Nam và Hoa Kỳ khởi động đàm phán một hiệp định đầu tư song phương (viết tắt là ‘BIT’) nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư của hai bên. Hiệp định này nhằm thiết lập các thủ tục giải quyết tranh chấp chi tiết và bảo hộ nhà đầu tư của hai bên, để các nhà đầu tư không bị áp đặt các yêu cầu thực hiện các biện pháp đầu tư bị cấm (‘Performance Requirements’), hạn chế chuyển tiền về nước và bị trưng thu tuỳ tiện trên lãnh thổ của bên kia. Nhìn chung, các cuộc đàm phán của Hoa Kỳ về BITs dựa trên Hiệp định BIT mẫu năm 2004 của Hoa Kỳ. Hơn nữa, BTA hiện có giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bao gồm một chương quy định về đầu tư và đàm phán trong tương lai một BIT. Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã kí kết vài điều ước mới về đầu tư hay hiệp định thương mại có chương về đầu tư. Các tài liệu này chắc chắn sẽ được tham khảo trong các cuộc đàm phán BIT giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngoài ra, hai bên đang đàm phán để trở thành thành viên của Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (viết tắt là ‘TPP’), nhằm tăng cường hội nhập kinh tế của hai nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.  

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)