Xin chào công ty Luật Minh Khuê. Xin luật sư giải đáp giúp tôi thắc mắc sau ạ: Theo quy định của Côn ước viên năm 1969, hủy bỏ và đình chỉ thi hành điều ước quốc tế được hiểu là gì? Trường hợp nào được tiến hành hủy bỏ, đình chỉ thanh hành điều ước quốc tế? Rất mong nhận được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Soạn - Hà Nội

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hành chính của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước quốc tế là gì?

Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.

Một điều ước quốc tế ra đời khi các quốc gia có nhu cầu hợp tác, tìm kiếm lợi ích chung. Nhu cầu đó xuất hiện và thay đổi theo thời gian. Một điều ước khi không còn phù hợp với nhu cầu của các quốc gia, không còn mang lại lợi ích như dự kiến trong hoàn cảnh mới. Các quốc gia sẽ tiến hành việc hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành điều ước đó. Công ước Viên năm 1969 có các quy định liên quan đến vấn đề này. Một lưu ý quan trọng là: Giống với vô hiệu điều ước quốc tế, tinh thần của Công ước Viên là hạn chế việc điều ước quốc tế bị hủy bỏ, đình chỉ thi hành (in a limitative manner).

Có ba điểm khác nhau giữa vô hiệu điều ước và hủy bỏ thi hành điều ước.

>> Xem thêm:  Quốc thư là gì ? khái niệm quốc thư được hiểu như thế nào ?

Thứ nhất, về bản chất pháp lý. Điều ước bị vô hiệu được xem như chưa từng tồn tại. Điều ước bị hủy bỏ vẫn được xem là tồn tại trong giai đoạn từ khi có hiệu lực đến khi bị hủy bỏ.

Thứ hai, khác nhau về căn cứ pháp lý. Công ước Viên cho phép một quốc gia có thể hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước theo chính quy định của điều ước đó hoặc theo quy định của Công ước. Vô hiệu điều ước quốc tế chỉ có thể theo quy định của Công ước Viên).

Thứ ba, khác nhau về hệ quả pháp lý. Vô hiệu điều ước làm cho các bên có quyền yêu cầu tái lập lại nguyên trạng trước khi có điều ước, trong khi đó, hủy bỏ điều ước không ảnh hưởng đến những quyền, nghĩa vụ, tình trạng pháp lý đã thực hiện điều ước trước khi bị hủy bỏ (Điều 73).

Trong Công ước Viên, các thuật ngữ sau đây được sử dụng tương đương nhau do cùng làm phát sinh hệ quả pháp lý giống nhau là điều ước quốc tế không còn hiệu lực ràng buộc:

- Hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực (termination),

- Bãi ước (denunciation),

- Rút khỏi điều ước (withdrawal).

Thuật ngữ “đình chỉ thi hành” có nghĩa tạm thời không còn hiệu lực, không cần thực thi.

2. Các trường hợp hủy bỏ, đình chỉ thi hành Điều ước quốc tế

2.1. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành theo thỏa thuận của các quốc gia

>> Xem thêm:  Nghị định thư SDR năm 1979 là gì? Tìm hiểu về nghị định thư SDR năm 1979?

Một điều ước quốc tế có thể bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành theo thỏa thuận giữa các quốc gia. Thỏa thuận này có thể đã được ghi nhận ngay trong điều ước đó, hoặc đạt được sau đó. Điều 54 quy định rằng hủy bỏ điều ước quốc tế có thể tiến hành (a) phù hợp với quy định của điều ước, hoặc (b) theo sự chấp nhận của tất cả các bên sau khi tham vấn với nhau. Điều 57 quy định tương tự về đình chỉ thi hành.

Điều 56 còn dự trù trường hợp điều ước quốc tế không có quy định, và cũng không có sự chấp nhận của tất cả các bên. Trong trường hợp này, sự thỏa thuận của các quốc gia có thể xác lập một cách ngầm định, gián tiếp. Việc hủy bỏ, bãi ước hay rút khỏi điều ước chỉ có thể nếu (a) có bằng chứng cho thấy các bên đã ngầm thừa nhận khả năng hủy bỏ, hoặc (b) bản chất của điều ước ngầm cho phép hủy bỏ, rút khỏi điều ước. Về thủ tục, quốc gia muốn hủy bỏ điều ước phải thông báo trước 12 tháng.

Điều 58 cho phép đình chỉ thi hành trong quan hệ giữa một số (không phải tất cả) quốc gia thành viên của một điều ước đa phương khi điều ước cho phép hoặc không cấm. Khi điều ước không cấm việc đình chỉ thi hành giữa một số quốc gia thành viên, các quốc gia đó phải bảo đảm không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên khác và không trái với mục đích và đối tượng của điều ước. Điều 58 điều chỉnh trường hợp đình chỉ bằng thỏa thuận, mà không áp dụng cho việc đình chỉ đơn phương. Không có quy định tương tự đối việc hủy bỏ điều ước giữa một số quốc gia thành viên.

Điều 59 quy định trường hợp một điều ước bị hủy bỏ, đình chỉ thi hành do các quốc gia thành viên ký kết một điều ước mới điều chỉnh cùng một vấn đề. Sự thỏa thuận về hủy bỏ, đình chỉ được thể hiện ngầm định, gián tiếp qua việc ký ký kết điều ước mới.

2.2. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành theo quy định của Công ước Viên

Bên cạnh căn cứ vào thỏa thuận giữa các quốc gia, việc hủy bỏ, đình chỉ thi hành có thể được thực hiện theo các căn cứ được quy định tại các Điều 60 (vi phạm nghiêm trọng của một bên), 61 (không còn khả năng thực thi), 62 (sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh), và 64 (xung đột với một quy phạm jus cogens mới xuất hiện).

2.2.1. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do vi phạm nghiêm trọng của một bên

Với năm khoản, Điều 60 quy định về quyền hủy bỏ, đình chỉnh thi hành một điều ước nếu có vi phạm nghiêm trọng của một bên thành viên. Đối với điều ước song phương, theo Điều 60(1), một bên có quyền viện dẫn vi phạm nghiêm trọng điều ước của bên còn lại làm căn cứu để hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước. Quốc gia bị vi phạm có quyền lựa chọn hoặc hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành điều ước; trường hợp đình chỉ thi hành, có thể toàn bộ điều ước hoặc một phần điều ước.

Đối với điều ước đa phương, vấn đề phức tạp hơn bởi vì liên quan đến lợi ích của nhiều quốc gia. Nếu muốn hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước, Điều 60(2)(a) quy định cần phải có ‘thỏa thuận đồng thuận’ (unanimous agreement) của tất cả các bên còn lại. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước có thể hoặc chỉ giới hạn trong quan hệ với riêng quốc gia vi phạm (quốc gia vi phạm không còn là thành viên của điều ước; điều ước tiếp tục tồn tại trong quan hệ với các quốc gia còn lại) hoặc trong quan hệ với tất cả các bên (hủy bỏ hoàn toàn điều ước quốc tế). Nói cách khác, các quốc gia còn lại có quyền quyết định hủy bỏ, đình chỉ hoàn toàn điều ước hoặc chỉ riêng với quốc gia vi phạm.

Nếu không thể đạt được thỏa thuận đồng thuận, một bên còn lại chỉ có thể đình chỉ thi hành điều ước trong quan hệ giữa bên đó với bên vi phạm. Từng quốc gia riêng lẻ không có quyền hủy bỏ điều ước đa phương do một bên vi phạm, bởi lợi ích của các quốc gia khác cần phải tính đến. Nhưng, quyền đình chỉ thi hành này chỉ có thể được viện dẫn nếu bên đó thuộc là bên bị đặc biệt ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm (Điều 60(2)(b)). Nếu không là một bên đặc biệt bị ảnh hưởng, Điều 60(2)(c) cho phép quyền đình chỉ thi hành có thể được viện dẫn nếu điều ước bị vi phạm là một điều ước “về bản chất, một bên vi phạm nghiêm trọng điều khoản của điều ước đó thì sẽ làm thay đổi lớn (radical changes) vị thế của mỗi thành viên trong việc tiếp tục thực thi nghĩa vụ của họ theo điều ước.” Đây là trường hợp các điều ước liên quan đến giải trừ quân bị. Đối với các điều ước này, vi phạm nghiêm trọng của một bên sẽ đặt tất cả các bên khác vào vị thế không thể tiếp tục thực thi điều ước đó. Giả sử, Mỹ hay Nga vi phạm thỏa thuận hạn chế đầu đạn hạt nhân thì việc bên còn lại tiếp tục thực thi thỏa thuận đó sẽ đặt bên đó vào nguy cơ an ninh nghiêm trọng và lâu dài.

Khoản 3 Điều 60 định nghĩa về vi phạm nghiêm trọng (a material breach). Vi phạm nghiêm trọng là (a) việc không thực thi điều ước quốc tế trái với quy định của Công ước này, hoặc (b) vi phạm một quy định có tầm quan trọng trong việc đạt được mục đích và đối tượng của điều ước quốc tế. Trong quá trình soạn thảo, ILC đã lựa chọn dung từ “vi phạm nghiêm trọng” (a material breach) thay cho từ “vi phạm cơ bản” (a fundamental breach) để bao quát rộng hơn các trường hợp vi phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 60. Vi phạm cơ bản có thể sẽ bị hiểu là vi phạm các quy định trực tiếp liên quan đến mục đích trọng tâm của điều ước. Vi phạm nghiêm trọng có nội hàm rộng hơn, và cũng bao hàm luôn trong đó vi phạm cơ bản. Anthony Aust lấy ví dụ một vi phạm quy định mang tính chất phụ trợ như ngăn cản thanh sát viên quốc tế thực thi quyền hạn theo Công ước chống Vũ khí hóa học là một vi phạm nghiêm trọng do cơ chế thanh sát là biện pháp trọng tâm để giám sát thực thi Công nước này.

>> Xem thêm:  Quan sát viên là gì ? Khái niệm quan sát viên được hiểu như thế nào ?

Quyền hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước song phương và đa phương nêu trên không được áp dụng đối với trường hợp liên quan đến các quy định về bảo vệ con người trong các điều ước nhân đạo. Ngoại lệ này là cần thiết để bảo đảm mục đích nhân đạo như trong các Công ước Geneva về bảo vệ dân thường, tù binh chiến tranh và thương bệnh binh trong xung đột vũ trang. Nếu cho phép hủy bỏ, đình chỉ thi hành các điều ước này khi một bên vi phạm sẽ dẫn đến thiệt hại lớn hơn về nhân mạng. Điều 60 cũng không ảnh hưởng đến các quy định khác của luật quốc tế áp dụng cho trường hợp vi phạm điều ước, như các quy định về trách nhiệm quốc gia.

2.2.2. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do không còn khả năng thực thi

Điều 61(1) quy định một bên có quyền việc dẫn căn cứ không còn khả năng thực thi (supervening impossibility of performance) để hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước. Có hai điều kiện cần phải thỏa mãn: (a) tình trạng không còn khả năng thực thi là hệ quả của việc biến mất, phá hủy lâu dài một đối tượng không thể thiếu cho việc thực thi điều ước, và (b) tình trạng này không phải gây ra bởi vi phạm của bên muốn hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước đó.

- Đối tượng không thể thiếu cho việc thực thi điều ước phải là một đối tượng hữu hình, ví dụ một hòn đảo bị chìm, một con sông bị khô cạn, vỡ đập nước, nhà máy thủy điện,… chẳng hạn. Điều ước về hợp tác phát triển kinh tế một hòn đảo hay xây dựng một nhà máy điện trên một con song sẽ không thể thực thi được nếu hòn đảo đó bị nhấn chìm do động đất, con sông đó bị khô cạn do biến đổi khí hậu.

- Điều kiện thứ hai là cụ thể hóa của nguyên tắc một bên không thể hưởng lợi từ vi phạm của chính mình.

Trong một số trường hợp, tình trạng không còn khả năng thực thi điều ước có thể trùng hợp với sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh theo Điều 62 bên dưới. Bởi vì, việc mất đi đối tượng cần thiết để thực thi điều ước cũng là một dạng thay đổi cơ bản của hoàn cảnh.

2.2.3. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh

Như đã nói ngay ở đầu post này, một điều ước được ký kết trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định và khi hoàn cảnh đó thay đổi, điều ước có thể sẽ bị hủy bỏ, đình chỉ thi hành. Điều 62 ghi nhận lại trường hợp này. Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh (rebus sic stantibus) là một căn cứ để một bên viện dẫn nhằm hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước nếu thỏa mãn tất cả 05 điều kiện sau:

- Có sự thay đổi (change) giữa hoàn cảnh lúc ký kết và hoàn cảnh sau đó;

- Sự thay đổi đó phải mang tính cơ bản (fundamental);

- Sự thay đổi đó không được các bên biết trước (not foreseen);

- Hoàn cảnh bị thay đổi là căn cứ quan trọng (essential basis) để các bên chấp nhận chịu ràng buộc đối với điều ước;

>> Xem thêm:  Phê chuẩn là gì ? Khái niệm phê chuẩn được hiểu như thế nào ?

- Sự thay đổi đó làm biến đổi đáng kể (radically transform) phạm vi nghĩa vụ sẽ được thực thi theo điều ước.

Việc sử dụng cấu trúc câu “không thể viện dẫn … trừ khi… “ cho thấy, về nguyên tắc, không thể viện dẫn Điều 62 trừ trường hợp ngoại lệ. Có thể thấy Điều 62 đặt ra yêu cầu rất cao để có thể viện dẫn căn cứ rebus sic stantibus. Điều 62(2) quy định trường hợp ngoại lệ không áp dụng rebus sic stantibus: (a) điều ước xác định biên giới, bao gồm cả điều ước hoạch định biên giới và chuyển nhượng lãnh thổ, hoặc (b) sự thay đổi là hệ quả của việc vi phạm điều ước. Điểm (b) phù hợp với nguyên tắc một bên không thể hưởng lợi từ hành vi vi phạm của mình.

2.2.4. Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do xung đột với quy phạm jus cogens mới xuất hiện

Quy phạm jus cogens là quy phạm có hiệu lực pháp lý cao nhất trong toàn bộ hệ thống luật pháp quốc tế. Nếu một điều ước được ký kết xung đột với một quy phạm jus cogens thì sẽ bị vô hiệu (Điều 53). Nếu điều ước đã tồn tại và sau đó một quy phạm jus cogens có nội dung trái ngược với điều ước mới xuất hiện, thì điều ước đó sẽ bị hủy bỏ (Điều 64). Có thể thấy Điều 53 điều chỉnh trường hợp quy phạm jus cogens đã tồn tại tại thời điểm ký kết điều ước, còn Điều 64 điều chỉnh trường hợp quy phạm jus cogens xuất hiện sau. Điều 53 quy định để một quy phạm jus cogens hình thành cần được sự chấp nhận của toàn thể cộng đồng quốc tế không cho phép loại trừ.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước quốc tế theo Công ước viên năm 1969". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm: Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về tổ chức quốc tế liên chính phủ và vai trong xây dựng pháp luật quốc tế

Câu hỏi thường gặp về hủy bỏ và đình chỉ điều ước quốc tế theo Công ước viên năm 1969

Câu hỏi: Điểm khác nhau giữa vô hiệu điều ước và hủy bỏ thi hành điều ước là gì?

Trả lời:

Thứ nhất, về bản chất pháp lý. Điều ước bị vô hiệu được xem như chưa từng tồn tại. Điều ước bị hủy bỏ vẫn được xem là tồn tại trong giai đoạn từ khi có hiệu lực đến khi bị hủy bỏ. 

Thứ hai, khác nhau về căn cứ pháp lý. Công ước Viên cho phép một quốc gia có thể hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước theo chính quy định của điều ước đó hoặc theo quy định của Công ước. Vô hiệu điều ước quốc tế chỉ có thể theo quy định của Công ước Viên).

Thứ ba, khác nhau về hệ quả pháp lý. Vô hiệu điều ước làm cho các bên có quyền yêu cầu tái lập lại nguyên trạng trước khi có điều ước, trong khi đó, hủy bỏ điều ước không ảnh hưởng đến những quyền, nghĩa vụ, tình trạng pháp lý đã thực hiện điều ước trước khi bị hủy bỏ (Điều 73).

Câu hỏi: Các thuật ngữ trong Công ước viên có ý nghĩa chỉ Điều ước quốc tế không còn hiệu lực là gì?

Trả lời:

Trong Công ước Viên, các thuật ngữ sau đây được sử dụng tương đương nhau do cùng làm phát sinh hệ quả pháp lý giống nhau là điều ước quốc tế không còn hiệu lực ràng buộc:

- Hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực (termination),

- Bãi ước (denunciation),

- Rút khỏi điều ước (withdrawal).

Câu hỏi: Hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước quốc tế khi nào?

Trả lời:

Một điều ước quốc tế có thể bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành theo thỏa thuận giữa các quốc gia. Bên cạnh căn cứ vào thỏa thuận giữa các quốc gia, việc hủy bỏ, đình chỉ thi hành có thể được thực hiện theo quy định của Công ước viên năm 1969: các căn cứ được quy định tại các Điều 60 (vi phạm nghiêm trọng của một bên), 61 (không còn khả năng thực thi), 62 (sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh), và 64 (xung đột với một quy phạm jus cogens mới xuất hiện).