Trong thời gian từ năm 2013 đến 2015, do 2 vợ chồng cùng đi làm, nên vẫn có thể đóng tiền cho ngân hàng đầy đủ, tuy nhiên bên cạnh đó, vào năm 2014 vợ chồng em có vay 1 khoảng 9.900.000đ của ngân hàng Y, trả trong vòng 12 tháng và em hoàn thành tốt hợp đồng. Vào khoảng tháng 12/ 2014, vợ chồng em do không có phương tiện đi lại nên có mua xe trả góp của ngân hàng Z, khoản vay khoảng 30.000.000đ, trả góp trong vòng 24 tháng, mỗi tháng 1.796.000đ. Và trong thời gian từ lúc bắt đầu vay cho đến khoảng tháng 5/2015, vợ chồng em liên tục hoàn thành nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên đến tháng 5/2015 do rắn mối lúc này chưa thu hồi vốn đã chết hàng loạt do dịch bệnh, em thì sinh con đầu lòng, chồng em mất việc do công ty cắt giảm lao động, gia đình rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Vào tháng 8/2015, do hợp đồng 9.900.000đ với công ty Y đã hoàn thành tốt, công ty đề nghị hợp đồng mới có giá trị 40.000.000đ, trả góp trong vòng 15 tháng, mỗi tháng 4.501.000đ. Do qua khó khăn, vợ chồng em đã ký hợp đồng, và sử dụng 40.000.000đ đó để thanh toán các khoản vay ngân hàng khác, chi trả chi phí cho việc sinh con và chi phí gia đình trong lúc thất nghiệp. Đến tháng 10/2015, vợ chồng em hoàn toàn mất khả năng chi trả và tạm ngưng toàn bộ ngân hàng em đã vay, thời điểm này em đã thanh toán như sau: ngân hàng Z 15 tháng, ngân hàng Y 2 tháng và ngân hàng X 9 tháng, Mong luật sư tư vấn giúp em là vợ chồng em có bị kiện hình sự không? Đồng thời thời gian này vợ chồng e đã có việc làm, dự định tháng tới sẽ thanh toán tiếp tục, như vậy tụi em có bị phạt gì không?

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009

Nội dung tư vấn

Trong trường hợp bạn không hợp tác và có dấu hiệu bỏ trốn, ngân hàng sẽ kiện bạn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bạn có thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự tùy theo mức tiền mà bạn vay và các tình tiết khác. Theo BLHS 1999 sửa đổi năm 2009
Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Nếu bạn không có hành vi bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên, bạn hoàn toàn không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Giao dịch giữa bạn và ngân hàng chỉ đơn thuần là giao dịch dân sự, nếu bạn không thực hiện đúng theo hợp đồng đã ký kết với ngân hàng, ngân hàng có quyền khởi kiện theo luật tố tụng dân sự để yêu cầu bạn hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền còn nợ. Còn về việc có bị phạt tiền do chậm trả nợ hay không, điều này sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bên, do đó, bạn cần đọc ký lại hợp đồng được ký kết giữa hai vợ chồng và Ngân hàng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư dân sự.