1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có phải đi tù không ?

Chào luật sư, kính mong luật sư tư vấn giúp đỡ tôi vấn đề sau. Em họ tôi, trước đây đã bị xử phạt hành chính về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhưng nay lại tiếp tục đi lừa người khác, lấy được 2 triệu đồng. Nhưng mà lại bị họ phát hiện và doạ sẽ báo công an. Theo quy định của pháp luật thì với số tiền đó, em họ tôi có bị đi tù hay không ?
Cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Như vậy, đối với hành vi của em họ bạn đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự thì có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

>> Bài viết tham khảo thêm: Bồi thường và ân giảm án đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào Luật sư, tôi có một vấn đề muốn hỏi Luật sư như sau: Cách đây một tháng, em có mua một chiếc xe máy cũ, có giấy tờ xe đầy đủ, giao dịch viết tay. Sau đó tôi có bán cho một người khác. Khi người này đi làm thủ tục sang tên thì mới phát hiện ra giấy tờ xe đó là giả. Do đó, hiện tại người đó khởi kiện tôi thì tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời

Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Dấu hiệu nổi bật để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm quyền tài sản khác đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Thủ đoạn gian dối phải được thể hiện bằng những hành vi cụ thể được biểu hiện bằng lời nói, hành động thể hiện ra bên ngoài chứ không phải chỉ trong tư tưởng. Thủ đoạn gian dối cũng được đặc trưng bởi ý chỉ của người hành động nó, tức là, một hành động để chứng minh được đó là dùng thủ đoạn gian dối phải được xuất phát từ ý chí của người đó, người đó biết hành động đó là gian dối, nhưng vẫn cố tình hành động nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Nếu người đó không biết hành động đó là gian dối và không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì không thể kết luận đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do đó, trong trường hợp của bạn, thời điểm bạn mua chiếc xe cũ và bán cho một người khác, bạn không biết giấy tờ đó là giả dối, cũng không có mục đích chiếm đoạt tài sản, đo đó trong trường hợp này bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự thuộc về người thực sự có hành vi lừa đảo và có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Tư vấn quy định của pháp luật hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, em và bạn em cùng làm trong một công ty bạn em bảo xin cho em lên làm trên văn phòng , trong quá trình xin ,bạn em có bảo em phải đưa một số tiền đặt cọc khi lên trên làm ,và tiền đặt cọc máy tính công ty để mang về nhà làm ,tổng số tiền em đưa là 58 triệu ,chỉ chuyển khoản qua ngân hàng , tới nay thi không liên lạc được với bạn em nữa . như vậy em có làm đơn kiện bạn em về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không?
Xin cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Điều 140, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi tiếp nhận tin báo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án và tiến hành điều tra nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Trong trường hợp này, bạn sẽ không phải nộp phí cho cơ quan tiến hành điều tra, truy tố hay xét xử vì đây là trách nhiệm của họ đã được pháp luật quy định:

"Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.

Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội."

Thưa luật sư, Cho em hỏi là giờ em muốn tố cáo có người lừa đảo chiểm đoạt tài sản của em Và em có chứng cứ là tin nhắn. Địa chỉ nhà người đó. Giờ em cần làm những thủ tục gì ? Xin cảm ơn.

>> Căn cứ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

>> Trình tự thủ tục tiến hành được quy đinh trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi tiếp nhận tin báo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án và tiến hành điều tra nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Trong trường hợp này, bạn sẽ không phải nộp phí cho cơ quan tiến hành điều tra, truy tố hay xét xử vì đây là trách nhiệm của họ đã được pháp luật quy định:

"Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.
Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội."

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Xử lý như thế nào khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính gửi Luật sư! Tôi có việc cần được Luật sư tư vấn như sau: Năm 1993 em chồng tôi đến cầu cứu vợ chồng tôi, nhờ chúng tôi dẫn nó để tạo uy tín vay dùm tiền người ta, giúp nó có tiền trả nợ nó vay ngân hàng.
Vì tội cho em, nên chồng tôi cho tôi đi với họ để tạo uy tín cho người ta dễ cho nó vay. Nhưng đến nơi người ta cho vay, em chồng tôi bảo không biết viết không biết ký, nên nhờ tôi ký thay, vì thương em chồng nên tôi đã ký thay dùm cho bọn họ. Và chính tay họ lấy tiền trực tiếp từ chủ nợ, để đi trả nợ của họ cho Ngân hàng. Khi họ đã trả được tiền cho ngân hàng và vay lại khoản mới, thì họ lại không chịu trả cho người ta (chủ nợ) mà bắt vợ chồng tôi là chị dâu và anh ruột trả thay ?! Tôi định kiện lên tòa vào thời điểm đó, vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhưng chồng tôi can, vì dù gì cũng là anh em ruột thịt hãy đợi họ ăn nên làm ra, lúc đó bắt họ trả cũng chưa muộn! Nhưng đến thời điểm này đã 22 năm và giờ đây họ cũng đã ăn nên làm ra, một tháng thu nhập: 240.000.000đ nhờ sản xuất nước đóng chai. Vợ chồng tôi bảo họ đã đến lúc trả lại những gì chúng tôi đã nai lưng ra trả giúp cho họ trong suốt 22 năm qua, nhưng họ lại lật lọng tráo trở không chịu trả. Lúc này chồng tôi cho phép tôi kiện.
Vậy tôi xin hỏi Luật sư tôi có kiện được không? Và các bước khởi kiện như thế nào? (có giấy nó xác nhận chúng tôi có vay dùm và ký thay dùm cho họ) ?
Tôi viết thư này, rất mong Luật sư tư vấn dùm cho chúng tôi, đem lại sự công bằng cho vợ chồng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có quy định về thời hiệu như sau:

Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu:

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Như vậy, theo quy định thì bạn đã mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên quyền khởi kiện là quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và Toà án luôn có trách nhiệm phải thụ lý đơn khởi kiện và không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện hết để từ chối thụ lý đơn khởi kiện khi có yêu cầu. Cụ thể, luật quy định Tòa án không được trả lại đơn vì lý do thời hiệu đã hết, mà khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, nếu thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì tùy theo từng trường hợp mà Tòa án giải quyết theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp này, xem xét tình hình thực tế, Tòa có thể đưa ra xét xử hoặc đình chỉ vụ án.

Việc khởi kiện dân sự hay hình sự còn tuỳ thuộc vào tính chất hành vi của em bạn. Dựa vào điều tra cụ thể, Toà án sẽ khởi tố vụ án hình sự hoặc dân sự. Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Để tiến hành khởi kiện, bạn gửi đơn khởi kiện kèm theo các chứng cứ, giấy tờ liên quan đến Toà án cấp huyện nơi em bạn đang cư trú để được giải quyết.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Có tội lừa dối tình cảm người khác không ? Khởi kiện hành vi lừa đảo qua mạng

5. Tư vấn pháp luật về việc bị lừa đảo trên mạng xã hội facebook ?

Thưa luật sư, xin hỏi một vấn đề mà em đang gặp phải như sau : Qua mạng xã hội facebook em có biết đến 1 shop có bán 1 chiếc điện thoại giá 1 triệu 3 sau đó họ bắt em đặt tiền cọc là 50k thì em cũng đã làm theo họ. Ngày hôm sau giờ giao hàng họ có bảo em phải thanh toán nửa số tiền thì họ mới giao hàng, em làm theo và họ nói sẽ giao hàng, sau 1 ngày họ lại nói phải thanh toán hết tiền thì họ mới giao hàng.
Em đã bắn lao thì phải theo lao và thanh toán hết số tiền qua card điện thoại, sau đó họ bảo rằng mang nhầm điện thoại nhưng điện thoại đó đắt hơn chiếc điện thoại mà em đã đặt hàng nên em không lấy , sau đó họ lại yêu cầu em thêm 200k tiền ship và em cũng đã làm đồng ý chuyển tiền bằng hình thức nạp thẻ điện thoại . Đến nay em vẫn chưa nhận được hàng và khi em liên lạc thì họ khóa điện thoại nên em không thể gọi mà cũng không thể nhắn tin với họ được !
Mong luật sư tư vấn giúp em làm cách nào để đưa những người này ra trước pháp luật và lấy lại số iền mà họ đang chiếm đoạt của tôi ?
Em cám ơn luật sư nhiều !

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn , như bạn trao đổi thì số tiền mà người chủ shop điện thoại này dùng những thủ đoạn và những thông tin gian dối để chiếm đoạt của bạn số tiền là 1.500.000 đồng , vậy nếu đây là lần đầu tiên họ thực hiện hành vi lừa đảo , người này có thể phải chịu trách nhiệm về hành chính theo điều 15 nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau :

Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

Ngược lại , nếu ngoài bạn ra người này còn lừa nhiều người khác nữa hoặc việc lừa đảo này mang tính chất chuyên nghiệp thì trong trường hợp này người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự 2015 , sửa đổi bổ sung 2017 nêu trên :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Bạn có thể làm đơn tố cáo / đơn trình báo vụ việc gửi lên cơ quan cảnh sát điều tra - cơ quan công an cấp quận/ huyện nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi người có hành vi vi phạm đang cư trú để được xem xét giải quyết về trường hợp này .

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?