1. Quy định về luật bầu cử đại biểu quốc hội trước kia
Luật bầu cử đại biểu quốc hội do Quốc hội Khoá IX thông qua ngày 15.4.1997. Luật này thay thế Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992. Đây là văn bản luật bầu cử đại biểu Quốc hội thứ năm trong lịch sử lập pháp của nước ta. Văn bản quy phạm pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ngày 02.12.1945. Tiếp đó là các Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959, năm 1980, năm 1992.
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 gồm 90 điều được chia làm 10 chương, cụ thể như sau: Chương I - Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 7); Chương II - Số đại biểu quốc hội, đơn vị bầu cử và khu vực bổ phiếu (từ Điều 8 đến Điều 12); Chương lII - Các tổ chức phụ trách bầu cử (từ Điều 13 đến Điều 21); Chương IV - Danh sách cử tri (từ Điều 22 đến Điều 27); Chương V - Ứng cứ và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (từ Điều 28 đến Điều 53); Chương VI - Trình tự bầu cử (từ Điều 54 đến Điều 63); Chương VII - Kết quả bầu cử (từ Điều 64 đến Điều 78), Chương VIIl - Việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội (từ Điều 79 đến Điều 86); Chương lX - Xử lí vi phạm về bầu cử (từ Điều 87 đến Điều 88); Chương X - Điều khoản thi hành (từ Điều 89 đến Điều 90).
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992 tiếp tục ghi nhận những nguyên tắc của một chế độ bầu cử dân chủ. Luật quy định rõ “việc bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”, “công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám (18) tuổi trỏ lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt (21) tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật. Theø quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, người đại biểu phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau: trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hôi công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật; có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội. Luật cũng quy định rõ “tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá bốn trăm năm mươi (450) người”.
Hiện Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 vẫn có hiệu lực thì hành nhưng đã được sửa đổi, bổ sung một phần lần gần đây nhất vào ngày 25.12. 2001 bởi Luật số 31/2001/QH10. Trong đó, tiêu chuẩn thứ nhất của đại biểu Quốc hội được sửa đổi là phải "trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Tổng số đại biểu Quốc hội theo Luật sửa đổi, bố sung năm 2001 sẽ là không quá năm trăm (500) người. Đặc biệt, để đảm bảo sự bình đẳng giới trong hoạt động chính trị, Luật sửa đổi, bổ sung năm 200f bổ sung một quy định quan trọng tại Điều 10a "Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng".
2. Phương thức bầu cử ở Việt Nam
Phương thức bầu cử của một quốc gia được hiểu là phương pháp, cách thức mà bầu cử được áp dụng để hình thành cơ quan nhà nước ở một quốc gia cụ thể. Phương thức bầu cử trả lời câu hỏi: bầu cử được áp dụng để hình thành cơ quan nào trong bộ máy nhà nước? và, được áp dụng như thế nào? Trải qua lịch sử áp dụng hơn 70 năm song trong suốt thời gian đó có thể nói phương thức bầu cử của Việt Nam không có nhiều thay đổi.
Ở Việt Nam, bầu cử được áp dụng để hình thành Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Mỗi cử tri bầu từ 2 - 3 đại biểu Quốc hội và từ 5 - 7 đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp.
Kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tới nay, bầu cử luôn là cách thức hình thành hai loại cơ quan dân cử ở Việt Nam là Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, các cơ quan dân cử
cũng đều được hình thành bằng con đường bầu cử. Một số quốc gia còn sử dụng bầu cử để hình thành các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, ví dụ ở Hoa Kỳ, Pháp, Nga... Tổng thống được hình thành bằng con đường bầu cử. Bầu cử cũng là cách thức phổ biến để hình thành chức vụ thị trưởng tại các thành phố, thị trấn ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức... Lý do Việt Nam cho tới nay chỉ áp dụng bầu cử để bầu các cơ quan đại diện từ trung ương tới địa phương bắt nguồn từ nguyên tắc “Chủ quyền nhân dân” trong tổ chức bộ máy nhà nước. Như phân tích ở Chương X, một phần nội dung của nguyên tắc này quy định người dân sẽ bầu cơ quan đại diện của mình ở các cấp trong bộ máy nhà nước và trao quyền lực cho các cơ quan này, trong đó có quyền hình thành các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Nếu nguồn gốc quyền lực về mặt chính trị là bắt nguồn từ nhân dân thì về mặt nhà nước là bắt nguồn từ cơ quan đại diện. Các chức vụ khác trong bộ máy nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp bắt nguồn từ cơ quan đại diện.
Đơn vị bầu cử = đơn vị lãnh thổ với sổ lượng dân cư nhất định được phân định để cử trí bầu đại biểu.
Cử tri = người dân có đủ điều kiện để đi bầu cử.
Ở khía cạnh thứ hai của phương thức bầu cử, Việt Nam có sự khác biệt tương đối lớn so với thế giới. Theo quy định hiện hành, các đại biểu dân cử sẽ được bầu theo đơn vị bầu cử. Mỗi đơn vị bầu cử là một đơn vị
lãnh thổ với một số lượng dân cư nhất định được phân định nhằm mục đích bầu đại biểu. Đơn vị bầu cử để bầu đại biểu Quốc hội và bầu đại biểu Hội đồng nhân dân thường không giống nhau. Cử tri sẽ đi bầu các đại biểu theo đơn vị bầu cử nơi mình cư trú và bầu số lượng đại biểu đại diện cho mình tương ứng với quy mô đơn vị bầu cử của mình, tuy nhiên mỗi cử tri không bao giờ bầu quá 3, thực tế là 2 hoặc 3 đại diện trong Quốc hội và 5 đại diện trong Hội đồng nhân dân.
Lấy bầu cử Quốc hội khóa XIV làm ví dụ. Đổ bầu 500 đại biểu Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 184 đơn vị bầu cử, trong số đó có 132 đơn vị bầu cử được bầu 3 đại biểu, 52 đơn vị bầu cử được bầu 2 đại biểu. Tổng số đơn vị bầu cử này được sắp xếp vừa khít trong ranh giới của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sao cho không có đơn vị bầu cử nào trải qua ranh giới của 2 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Với cách như vậy, sau khi bầu cử xong thì ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương luôn thành lập được 1 đoàn đại .biểu Quốc hội của mình. Ví dụ, trong số 184 đơn vị bầu cử trên đây, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có 10 đơn vị bầu cử, thành phố Hải Phòng có 3 đơn vị bầu cử. Các tỉnh nhỏ như Cao Bằng, Đăk Nông, Điện Biên, Hậu Giang chỉ có 2 đơn vị bầu cử (Xem Nghị quyết số 53/NQ-HĐBCQG, ngày 03 tháng 3 năm 2016 của Hội đồng bầu cử quốc gia về số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Mặc dù pháp luật quy định mỗi đại biểu Quốc hội đều là đại biểu của toàn dân, song với cách chia và bầu đại biểu Quốc hội như trên, mỗi cử tri, hay nói một cách khái quát hơn là mỗi người dân Việt Nam, về thực chất sẽ có không phải 1 mà là 2 hoặc 3 đại diện trong Quốc hội do mình bầu lên. ứng cử viên trúng cử phải hội đủ 2 điều kiện: phải được trên 50% phiếu bầu hợp lệ của đơn vị bầu cử và phải nằm trong số đại biểu có số phiếu cao nhất tương ứng với số lượng đại biểu được bầu từ đơn vị bầu cử. Nếu sau lần thứ nhất không có đại biểu trúng cử hoặc chưa đủ số lượng đại biểu trúng cử thì có thể tiến hành cuộc bầu cử thêm để đạt đủ số đại biểu. Lần bầu cử thêm lấy ứng cử viên là những người chưa trúng sau lần bầu cử thứ nhất. Điều kiện để trúng cử lần bầu cử thêm cũng giống với điều kiện trúng cử của lần bầu cử thứ nhất. Nếu bầu cử thêm vẫn không đủ số đại biểu của đơn vị bầu cử thì không tiến hành bầu cử tiếp nữa.
Có thể nói, phương thức bầu cử của Việt Nam khá đặc trưng mà trên thế giới không có nhiều quốc gia áp dụng phương thức này. Dưới đây sẽ giới thiệu khái lược những phương thức bầu cử phổ biến trên thế giới để so sánh.
3. Phương thức bầu cử cơ quan đại diện phổ biến trên thế giới
Theo nghiên cứu của Viện trợ giúp bầu cử và dân chủ (IDEA), trên thế giới hiện nay, bầu cử cơ quan đại diện được tiến hành theo rất nhiều phương thức khác nhau và mỗi phương thức khi áp dụng ở một quốc gia cụ thể lại có những đặc thù riêng. Tuy nhiên, có thể xếp các phương thức bầu cử phổ biến ưên thế giới theo 4 nhóm lớn là nhóm phương thức bầu cử theo đa số, nhóm phương thức bầu cử theo tỉ lệ, nhóm phương thức bầu cử hỗn hợp và nhóm các phương thức bầu cử khác.1 Do giới hạn dung lượng của giáo ữình nên ở đây chỉ giới thiệu tóm tắt 7 phương thức bầu cử trong hai nhóm đầu tiên, cũng là hai nhóm được áp dụng phổ biến nhất hiện nay:
+ Nhóm phương thức bầu cử theo đa số ỤPluralỉty/majorỉty System) bao gồm 5 phương thức bầu cử sau:
- Phương thức người về đích trước (First Past The Post - FPTP)\ Theo phương thức này, toàn bộ lãnh thổ quốc gia được chia thành số đơn vị bầu cử tương ứng với số lượng đại biểu Quốc hội. Cử tri của mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 đại biểu với danh nghĩa cá nhân hoặc đảng chính trị. ứng cử viên trúng cử là người/đảng có số phiếu cao nhất nhưng không bắt buộc phải đạt được hơn 50% tổng số phiếu bầu. Ví dụ trong cuộc bầu cử Nghị viện của Vương quốc Anh năm 2015, đơn vị bầu cử Lewes có 69.481 cử tri, trong đó có 72.74% đi bầu và đảng trúng cử là Đảng bảo thủ chỉ với 38% phiếu bầu; tại đơn vị bầu cử Nam Luton, Đảng lao động trúng cử chỉ với 44,2% số phiếu bầu trong số 62,79% số cử tri 67.234 người của đơn vị bầu cử này. Chính vì cách tính kết quả bầu cử như vậy nên phương thức bầu cử này còn được gọi là phương thức bầu cử đa số tương đối theo đơn vị bầu cử đơn danh. Ngoài Anh quốc, phương thức FPTP còn được sử dụng ở nhiều quốc gia khác như Malaysia, Hoa Kỳ, Canada, Botswana...
- Phương thức bỏ phiếu theo khối (Block Vote - BV)\ Giống với phương thức FPTP, phương pháp này áp dụng cách tính đa số tương đối. Tuy nhiên, thay vì áp dụng đơn vị bầu cử đơn danh thì phương pháp này áp dụng đơn vị bầu cử đa danh, tức là mỗi đơn vị bầu cử được bầu nhiều hơn một đại biểu. Như vậy, ứng cử viên trúng cử là người được phiếu cao nhất xếp từ trên xuống dưới cho tới khi hết số lượng đại biểu được phân bổ cho đơn vị bầu cử. Phương pháp BV được áp dụng ở Đảo Cayman, Quần đảo Falkland, Guemsey, Kuwait, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào...
- Phương thức bỏ phiếu theo khối đảng chính trị (Party Block Vote - PBV): Phương thức này chỉ khác phương thức BV ở chỗ ứng cử viên là các đảng chính trị, thay vì tư cách cá nhân. Đảng chính trị thắng cử sẽ lấy toàn bộ số ghế được phân cho đơn vị bầu cử. Cách tính đảng chính trị thắng cử cũng áp dụng phương pháp đa số tương đối. Phương pháp này được áp dụng ở Cameroon, Chad, Djibouti và Singapore...
- Phương thức bỏ phiếu lựa chọn (Altemative Vote - AV): Phương thức này tương tự phương thức FPTP, song khác ở điểm cơ bản là nó yêu cầu người trúng cử phải đạt trên 50% phiếu bầu. Để đạt được điều đó, mỗi cử tri sẽ điền các con số theo thứ tự 1,2, 3 trước tên các ứng cử viên trên lá phiếu với hàm ý là các thứ tự ưu tiên trúng cử. Trong lần kiểm phiếu thứ nhất, trong sô những ứng cử viên có thứ tự ưu tiên 1 có người đạt trên 50% phiếu bầu thì người đó sẽ trúng cử. Nếu không có ai đạt trên 50% phiếu thì người ta sẽ loại ứng cử viên có thứ tự ưu tiên 1 mà có số phiếu ít nhất. Các lá phiếu của người này sẽ được tính cho người có thứ tự ưu tiên thứ 2. Cứ như vậy cho đến khi tìm được ứng cử viên đạt trên 50% số phiếu bầu. Do yêu cầu này nên phương thức AV được gọi là phương thức đa số tuyệt đối. Phương thức AV được áp dụng ở Fiji, Úc, Papua New Guinea...
- Phương thức hai vòng (Two-Round System - TRS): Phương thức này cũng là phương thức đa số tuyệt đối giống phương thức AV, song nó áp dụng các vòng bầu cử khác nhau để xác định người trúng cử. Thông thường, sau khi kiểm phiếu lần thứ nhất mà không có ai đạt trên 50% số phiếu thì người ta sẽ lấy 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất để bỏ phiếu lần 2 nhằm tìm ra người trúng cử. Phương thức TRS có thể áp dụng cùng với phương thức bỏ phiếu theo khối (BV) hoặc bỏ phiếu theo khối đảng chính trị (PBV). Phương thức bầu cử ở Việt Nam chính là phương thức bỏ phiếu theo khối kết hợp với phương thức TRS. Phương pháp TRS cũng được áp dụng ở Pháp, Togo, Turkmenistan, Haiti, Gabon...
+ Nhóm phương thức bầu cử theo tỉ lệ (proportỉonal System) không xác định kết quả bầu cử theo đa số phiếu mà dựa trên tỉ lệ phiếu bầu dành cho các ứng cử viên. Nhóm này gồm có 2 phương thức bầu cử:
- Phương thức đại diện tỉ lệ theo danh sách (List Proportional Representation - List PR): Đây là phương thức bầu cử theo tỉ lệ phổ biến nhất đang được áp dụng hiện nay đối với các đơn vị bầu cử đa danh. Theo phương thức này, ứng cử viên không tranh cử với tư cách cá nhân mà với tư cách đảng chính trị của mình. Mỗi đảng chính trị đưa ra một danh sách các ứng cử viên của đảng mình xếp theo thứ tự ưu tiên để tranh cử ở một đơn vị bầu cử nhất định, có khi cả đất nước là một đơn vị bầu cử. Khi đi bầu, cử tri sẽ chọn 1 đảng chính trị mà mình chọn. Khi xác định kết quả, người ta sẽ căn cứ trên số phiếu họp lệ để tính một định mức bầu cử, hiểu một cách đơn giản là “giá trị theo số lượng phiếu bầu” của mỗi ghế đại biểu. Công thức xác định định mức bầu cử phổ biến nhất là công thức Droop:
Định mức bầu cử = (tổng số phiếu hợp lệ/tổng số ghế +1) + 1
Mỗi đảng chính trị sẽ nhận được số ghế trong cơ quan đại diện tương ứng với số phiếu bầu cho đảng đó nếu số phiếu bàu vượt định mức trên đây. Theo cách thức này, mỗi đảng chính trị đều nhận được số ghế tỉ lệ với số phiếu cử tri mà mình nhận được. Các đảng có ghế sau đó sẽ cử đảng viên theo thứ tự trong danh sách đã công bố để nắm giữ chức vụ. Tuy nhiên, trên thế giới cũng có nhiều công thức tính tỉ lệ khác nhau mà tuỳ từng quốc gia sẽ áp dụng phương pháp phù hợp. Do đó, bản thân phương thức List PR cũng có thể được áp dụng theo các cách thức khác nhau. Các quốc gia áp dụng phương thức này là Estonia, E1 Salvador, Guinea Xích Đạo, Phần Lan, Guatemala, Cộng hòa Séc, Đan Mạch...
- Phương thức lá phiếu đơn danh có chuyển nhượng (Single Transferable Vote - STV): Đây cũng là phương thức bầu cử theo tỉ lệ song áp dụng với ứng cử viên là cá nhân chứ không phải đảng chính trị. Có lẽ vì vậy mà cách thức vận hành của nó khá phức tạp. Theo phương thức này, mỗi đơn vị bầu cử sẽ được bầu nhiều hơn 1 đại biểu và tất nhiên số ứng cử viên có nhiều hơn số ghế được bầu. Khi bỏ phiếu, cử tri sẽ đánh số thứ tự ưu tiên 1, 2, 3 cho các ứng cử viên mà mình chọn. Sau khi kiểm phiếu, người ta cũng sẽ căn cứ trên số phiếu hợp lệ để tính một định mức bầu cử, ví dụ công thức Droop đề cập trôn đây. Khi kết thúc kiểm phiếu người ta sẽ biết được ứng cử viên nào có bao nhiêu phiếu bầu với sự ưu tiên 1, 2, 3. Sau đó người ta xác định kết quả bầu cử theo vòng. Ở một vòng nào đó có ứng cử viên trúng cử thì số phiếu dôi ra của người đó được chia cho các ứng cử viên còn lại theo tỉ lệ của phiếu bầu ưu tiên tương ứng để xét vòng sau; nếu không có ai đủ phiếu trúng cử thì người ít phiếu nhất bị loại ra và số phiếu của ứng cử viên đó được chia cho các ứng cử viên còn lại theo tỉ lệ của phiếu bầu ưu tiên tương ứng để xét vòng sau. Cứ như vậy cho đến khi tìm được hết người trúng cử. Công thức chuyển nhượng phiếu của phương thức này khá phức tạp và có nhiều biến thể, tuy nhiên có cùng một điểm chung là số phiếu vượt của người đã trúng cử và số phiếu của người thấp phiếu nhất được chuyển nhượng cho các ứng cử viên còn lại theo một cách thức nào đó để bảo đảm bầu đủ số ghế đã được ấn định cho đơn vị bầu cử. Theo số liệu thống kê năm 2004 của IDEA, phương thức này chỉ được áp dụng ở Cộng hòa Ireland và Malta.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)