1. Chứng minh là gì? Bản chất của chứng minh trong tố tụng dân sự

Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nên có nội hàm rất rộng, là bước rất quan trọng trong thủ tục tố tụng. Chứng minh giúp cơ quan điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tìm ra sự thật khách quan của vụ án.

Bản chất của chứng minh trong tố tụng dân sự là chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người “thấy rõ là có thật, là đúng”. Do vậy, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh trong tố tụng dân sự cũng rất đa dạng. Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chửng minh, chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lí và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự.

2. Nguyên tắc chứng minh trong phiên hòa giải, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ

Tại điểm g khoản 2 Điều 203 BLTTDS 2015 quy định: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán “tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Đây là một thủ tục tố tụng mới được quy định tại BLTTDS 2015, mục đích pháp luật tố tụng dân sự bổ sung quy định về phiên họp này nhằm hướng tới việc yêu cầu các bên tiếp tục giao nộp chứng cứ, công khai, tạo điều kiện cho các bên còn lại tiếp cận chứng cứ mà bên kia đã cung cấp. Đồng thời, trao đổi ý kiến và xác nhận những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; trình bày ý kiến về những vấn đề cần thiết khác....

2.1. Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự

Thứ nhất, đương sự trình bày ý kiến của mình về nội dung tranh chấp. Phiên hòa giải là thủ tục tố tụng bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Đây là thủ tục cần có để các đương sự có cơ hội và điều kiện trao đổi, thỏa thuận với nhau một cách “hòa bình”, mỗi bên “nhượng bộ” một bước  thay vì phải đưa ra xét xử. Thủ tục hòa giải bảo đảm nguyên tắc và quyền “tự quyết” của các đương sự trong vụ án dân sự.

Tại giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử, khoản 3 Điều 185 BLT. TDS 2004 và khoản 3 Điều 210 BLTTDS 2015 quy định đương sự thực hiện việc chứng minh cho yêu cầu của mình thông qua phương thức như sau: trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải. Việc trình bày ý kiến này không chỉ đơn thuần là trình bày nội dung vụ án mà còn phải phân tích, kết nối những sự kiện đó một cách logic, từ đó nguyên đơn chứng minh bị đơn đã xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bị đơn chứng minh mình không xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc chứng minh ở giai đoạn này không phải là yếu tố quyết định kết quả mà quan trọng nhất là vận dụng kỹ năng quan trọng được vận dụng trong quá trình này là kiến thức về giao tiếp. Ở giai đoạn này, việc một bên đương sự vắng mặt không có ý nghĩa nhiều đối với việc thực hiện nguyên tắc chứng minh, bởi kết quả của việc đương sự vắng mặt chỉ là việc hình thành “Biên bản không hòa giải được” của Tòa án. Vì thiếu đương sự không hòa giải được. Chứ không đưa đến kết quả cuối cùng về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bất cứ đương sự nào (dù vắng mặt hay có mặt). Thứ hai, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp, tiếp cận chứng cứ.

Khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ: Đương sự có quyền và nghĩa vụ bổ sung tài liệu, chứng cứ; Quyền yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ, Quyền yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng; Quyền tiếp cận chứng cứ mới được bổ sung. Đồng thời giới hạn về thời gian thực hiện việc giao nộp tài liệu, chứng cứ bổ sung đã được bổ sung trong BLTTDS 2015 do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định (theo khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015). Quy định này tạo độ linh hoạt trong hoạt động cung cấp chứng cứ. 

Tuy nhiên, khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 cũng đặt ra ngoại lệ với trường hợp cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ muộn. Đó là có lý do chính đáng và đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ án dân sự. Như vậy, nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với hoạt động giải quyết vụ án mà còn đặt ra với chính việc cung cấp tài liệu, chứng cứ muộn. Mặc dù không quy định cụ thể về “lý do chính đáng”, nhưng với cách lý giải thông thường và kinh nghiệm xét xử việc xem xét “lý do chính đáng” để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận tài liệu, chứng cứ nộp muộn sẽ được các Thẩm phán căn cứ vào từng vụ án, từng tình huống cụ thể, riêng biệt mà quyết định.

2.2. Trách nhiệm chứng minh của của người tiến hành tố tụng

Trách nhiệm chứng minh của Thẩm phán: Khác với giai đoạn khởi kiện, giai đoạn này, trách nhiệm chứng minh của Tòa án được ghi nhận rõ ràng hơn, với các công việc: Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của BLTTDS, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Thứ nhất, Tòa án tổ chức hoạt động hòa giải. Khoản 4 Điều 185 BLT. TDS 2004 và Điều 210 BLTTDS 2015 quy định vai trò chứng minh của Thẩm phán tại phiên hòa giải là làm rõ những vấn đề đã thống nhất và chưa thống nhất giữa các bên, đồng thời yêu cầu các bên làm rõ những nội dung còn chưa rõ, chưa thống nhất. Việc thực hiện nguyên tắc chứng minh của Thẩm phán ở phiên hòa giải khá mờ nhạt. Bởi mục đích chính của phiên hòa giải là thuyết phục các bên có thái độ hợp tác, nhượng bộ nhất định, hướng các bên thỏa thuận, giải quyết vụ án trong hòa bình, kết thúc tranh chấp. Từ đó đưa ra quyết định: công nhận thỏa thuận, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thứ hai, Tòa án tổ chức hoạt động kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Đối với Tòa án, mà cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức, thông báo việc tổ chức phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ cho đương sự. Tại phiên họp, Thẩm phán có trách nhiệm: công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tiến hành hỏi các đương sự. 

Trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát kiểm sát trong phiên hòa giải, kiểm tra, giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ: Viện kiểm sát thực hiện trách nhiệm chứng minh qua việc kiểm sát hoạt động tại phiên hòa giải, kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nếu tham gia trực tiếp hoặc qua các hồ sơ vụ án, các biên bản được lập trong phiên họp nếu không tham gia tại phiên làm việc. BLTTDS 2015 đã bổ sung kiểm sát viên được phân công thực hiện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn “Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết Vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ. 

3. Nguyên tắc chứng minh ngoài phiên hòa giải, kiểm tra, giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ

Trường hợp đương sự chưa giao nộp, giao nộp chưa đầy đủ chứng cứ (tại thời điểm khởi kiện, thụ lý và tại phiên hòa giải, kiểm tra, giao nộp chứng cứ) do có lý do chính đáng, thì đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ theo thời gian ấn định của Thẩm phán giải quyết vụ án. Sau phiên hòa giải, kiểm tra, giao nộp chứng cứ Tòa án có thể có trách nhiệm chứng minh qua việc thu thập chứng cứ nếu có yêu cầu của đương sự. Theo quy định tại BLTTDS 2015 Tòa án được chủ động hỏi đương sự “có yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ không?” tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ.

Tòa án có quyền yêu cầu các chủ thể đang lưu trữ, quản lý những tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó (nếu đương sự đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà không thể tự thu thập). Thời hạn thực hiện việc chứng minh qua cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án. Việc pháp luật tố tụng dân sự trao quyền cho Tòa án yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ không phải là quyền lực thực chất của Tòa án, đây là quyền lực phái sinh từ quyền và nghĩa vụ chứng minh của của đương sự ở hai cách thức thực hiện nguyên tắc chứng minh nêu trên. Quy định về vấn đề này phát sinh từ việc đương sự bị hạn chế quyền chứng minh do cản trở, khó khăn từ phía các chủ thể quản lý, lưu giữ chứng cứ có thể dẫn đến nguy cơ sự thật khách quan vụ án dân sự không thể làm rõ, ảnh hưởng xấu tới việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Do đó, có thể nói đây là nguyên nhân để phát sinh việc pháp luật tố tụng dân sự trao cho Tòa án quyền yêu cầu các chủ thể đang quản lý, lưu giữ chứng cứ, tài liệu giao nộp tài liệu, chứng cứ cần thiết. Tuy nhiên, đây chỉ là quyền phái sinh từ chính quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, nên điều kiện để Tòa án được thực hiện quyền này thì cần thiết phải có yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát cũng có trách nhiệm tham gia kiểm sát việc thực hiện việc thu thập chứng cứ của Tòa án, kiểm sát các quyết định được tòa ban hành trong giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê