Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có vấn đề thắc mắc mong Luật sư tư vấn :
Tôi có 1 người bạn có vay ngân hàng 1 số tiền, tới tháng 10/2018 mới hết hạn nhưng vì người đó bị tai nạn nên trả trễ 1 tháng, và bên ngân hàng đòi kiện người đó ra tòa với tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản và buộc người đó phải bồi thường hợp đồng lên đến hơn chục triệu.Vậy người đó có bị kiện và bồi thường gì không ạ ?
- Mong sớm nhận được phản hồi từ quý công ty,tôi xin chân thành cảm ơn.
Trả lời : Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi.Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau :
1. Khi vay ngân hàng mà không trả được ?
1.1 Hợp đồng vay được hiểu như thế nào theo quy định của pháp luật?
Hợp đồng vay là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo đó nghĩa vụ của bên vay được quy định theo Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy về nguyên tắc đến thời hạn thanh toán, bên vay tài sản phải thực hiện thanh toán đủ tiền cho bên vay trường hợp chậm thanh toán thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 357 BLDS 2015 như sau:
Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
Như vậy theo quy định của BLDS, thì hợp đồng vay là thỏa thuận dân sự nếu chậm thanh toán tiền cho ngân hàng thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật dân sự cụ thể trậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian trậm trả. Bên cho vay có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân để yêu cầu giải quyết để yêu cầu bên cho vay phải có trách nhiệm thanh toán.
Bên cho vay chỉ có quyền tố cáo ra cơ quan công an nếu xét thấy có dấu hiệu bên vay chiếm đoạt tài sản đó như bằng hình thức hợp đồng vay rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó theo quy định trong Điều 175 Bộ luật hình sự 2015. Cụ thể
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Vì vậy trong trường hợp này, anh/chị nên tư vấn cho bạn mình thực hiện liên hệ trả tiền cho bên cho vay để tránh trường hợp bị khởi kiện ra tòa vừa bị ảnh hưởng thời gian, vừa phải nộp án phí dân sự còn phải trả lãi xuất cho việc quá hạn và còn có thể bị phạt hợp đồng trong trường hợp hợp đồng có quy định về phạt khi chậm thực hiện trách nhiệm.
2.Khi người khác lừa lấy sổ đỏ thế chấp ngân hàng ?
>> Tư vấn pháp luật hình sự, dân sự, lao động, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Bạn đang rơi vào tình trạng bị lừa đảo rất phổ biến hiện nay. Sau khi có được sự ủy quyền của bạn, cô ta sẽ mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của bạn đi thế chấp vay tiền, sau đó sẽ cuỗm luôn số tiền đó và bỏ trốn. Sau đó, bạn rơi vào tình trạng nợ những món nợ lớn mà chính bạn không hề hay biết, bạn chỉ biết khi có giấy đáo hạn từ ngân hàng hay thông báo từ các chủ nợ đã nhận thế chấp quyền sử dụng đất của bạn. Nếu không tìm được ra cô ta và đòi lại được số tiền, bạn sẽ đứng trước nguy cơ bị phát mại quyền sử dụng đất, nhà ở,...
Nếu phát hiện cô ta đã dùng sổ đỏ của bạn để thế chấp vay tiền thì tùy vào số tiền, bạn có thể làm đơn tố cáo cô ta về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 của BLHS năm 2015 sửa đổi,bổ sung năm 2017
Lưu ý: tài sản chiếm đoạt ở đây là số tiền lấy được từ việc thế chấp quyền sử dụng đất chứ không phải Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay quyền sử dụng đất (bởi bạn đã ủy quyền cho cô ta).
- Về việc giấy ủy quyền, đúng là khi ký giấy ủy quyền, bạn không đọc nhưng đây là nghĩa vụ của người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cô ta không hề có hành vi ngăn cản bạn xem nội dung nên giấy ủy quyền này vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận thì thời hạn của giấy ủy quyền sẽ là 1 năm và bạn hoàn toàn có thể đơn phương chấm dứt giao dịch này theo quy định BLDS 2015
Điều 569. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền
1. Trong trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu uỷ quyền không có thù lao thì bên uỷ quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý.
Bên uỷ quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên uỷ quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng uỷ quyền đã bị chấm dứt.
2. Trong trường hợp uỷ quyền không có thù lao, bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên uỷ quyền biết một thời gian hợp lý; nếu uỷ quyền có thù lao thì bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền.
Bạn cần xác định rõ việc lừa dối ở đây xảy ra ở sau khâu ủy quyền, tức là cô ta đem GCNQSDĐ của bạn đi thế chấp vay tiền theo ủy quyền của bạn nhưng lại không giao số tiền đã vay được cho bạn và bỏ trốn. Do đó, bạn khởi kiện cô ta vì hành vi này.
3. Chuyển tiền nhưng không nhận được hàng ?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo thông tin bạn gửi cho chúng tôi thì người này có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Vậy thế nào là lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 có quy định;
"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."
Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần thoả mãn các dấu hiệu sau:
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Theo thông tin bạn gửi cho chúng tôi người này dùng tài khoản giao dịch được với bạn thì chắc là đã đủ 16 tuổi trở lên và không bị mất các bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình
Đối với hành vi này bạn gửi đơn tới cơ quan điều tra để họ điều tra vụ việc rồi họ làm thủ tục khởi tố đến toà án.
4. Khi bị người yêu lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?
Trả lời:
Trong trường hợp của bạn, người yêu bạn đã dùng thủ đoạn gian dối, lừa đảo lợi dung lòng tin của bạn để bạn đưa cho anh ta mượn số tiền 400 triệu đồng. Hành vi của người yêu bạn nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền của bạn là 400 triệu đồng, có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 174 BLHS 2015. Mặc dù 2 bên không có giấy ghi nợ nhưng bạn có thể trình báo với cơ quan công an về sự việc trên.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
5.Cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Khách thế của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tà sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản bao gồm: vật, tiền.
Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê