1.Quy định về phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

Quy định của pháp luật về phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cụ thể như sau:

Một là, việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.

>> Xem thêm: Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Hai là, các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nhưng không tiến hành nghị án.

+ Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị.

+ Chủ toạ phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo. Chủ toạ phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.

+ Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

2. Vai trò của xét xử phúc thẩm

Trong tố tụng hình sự xét xử phúc thẩm có một vai trò đặc biệt quan trọng, trước hết đây là hoạt động của tòa án cấp trên trực tiếp của tòa án đã xét xử sơ thẩm nhằm giải quyết lại vụ án khi có kháng cáo hoặc kháng nghị đổi với bàn án, quyết định sơ thẩm và theo như phân cấp thẩm phán thì trình độ và kinh nghiệm của thẩm phán tòa án cấp dưới sẽ thấp hơn trình độ và kinh nghiệm của tòa án cấp trên do đó các thẩm phán cấp trên có thể kịp thời phát hiện những sai lầm hay thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật. Điều này cũng cụ thể hóa nguyên tắc hai cấp xét xử xác định tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai.

Tuy nhiên với nhiều điểm ưu việt trong tổ chức tòa án về việc biểu quyết theo số đông hay sự tham gia hội thẩm nhân dân vào phiên tòa sơ thẩm đã thể hiện tính dân chủ khi xét xử, do đó không phải lúc nào một bản án sơ thẩm cũng có sai sót và phải phúc thẩm, hầu như bản án mang tính nghiêm minh, đúng pháp luật, đáp ứng nguyện vọng của người dân. Trong thực tế sau phiên tòa sơ thẩm có thể phát sinh một số tình tiết mới có giá trị làm thay đổi nội dung trong bản án hay quyết định.

>> Xem thêm: Đối tượng, chủ thể và phạm vi của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự ?

Ví dụ người bị hại có đơn đề nghị giảm hình phạt, giảm mức bồi thường cho bị cáo hoặc giảm mức bồi thường cho nguyên đơn dân sự khi nhận thấy mức phạt mà Tòa áp dụng với bị cáo là quá nặng. Trong những trường hợp này nếu như không có quy định một trình tự xem xét lại bản án, quyết định tại phiên tòa sơ tham thì sẽ không phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng và nghiêm minh. Tại phiên tòa phúc thẩm hội đồng xét xử có thể thay đổi nội dung bản án, quyết định sơ thẩm theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ, có thể hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án. Có thể định nghĩa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là việc tòa án cấp trên trực tiếp của tòa án đã xử sơ thẩm xét xư lại bản án hoặc quyết định của cấp sơ thẩm khi bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật nhưng đã bị kháng cáo, kháng nghị hợp pháp trong thời gian luật định.

3. Thẩm quyền của tòa án các cấp

Theo Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định về thẩm quyền của tòa án các cấp thì:Các Tòa phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao xét x phúc thẩm những vụ án do các Tòa án nhân dân cp tỉnh đã xét xử sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự trung ương xét xử phúc thm những vụ án do các Tòa án quân sự cấp quân khu đã xét xử sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm những vụ án do các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện đã xét xử sơ thẩm mà bn án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử phúc thẩm những vụ án do các Tòa án quân sự cp khu vực đã xét xử sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

>> Xem thêm: Những quyết định thuộc thẩm quyền toà án trong khi chuẩn bị xét xử ?

4. Sự khác nhau cơ bản giữa phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm

Tòa phúc thẩm là cấp xét xử thử hai có nhiệm vụ xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Còn giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt để xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.

Đối tượng xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể là những vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Còn đối tượng xem xét của giám đốc thẩm, tái thẩm là những vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật không chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm, mà cả của Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị kháng nghị.

Trong thủ tục phúc thẩm, ngoài Viện kiểm sát (cấp sơ thẩm và phúc thẩm) có quyền kháng nghị, thì bị cáo và các đương sự (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ) cũng có quyền kháng cáo. Trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thì chỉ có những người có thẩm quyền (Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên) mới có quyền kháng nghị.

>> Xem thêm: Thủ tục phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu công nhận, không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án, trọng tài nước ngoài

Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm, tức là việc xét xử phúc thẩm vụ án được tiến hành công khai với sự tham gia của những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, phiên dịch, người giám định...), trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc (xem bình luận Điều 18). Còn phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải là phiên tòa công khai và việc triệu tập người tham gia tố tụng không phải là bắt buộc.

Ngoài các quyền bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án; hủy bản án để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủy bản án và đình chỉ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm còn có quyền sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới. Còn đối với cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì không có quyền sửa bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới.

Điểm mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Ngoài ra một điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là đã liệt kê cụ thể những quyết định nào là bị kháng cáo, kháng nghi: Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này.

5. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm

Theo Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 mục I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP TANNTC thì Viện trưởng Viện Kiểm sát hoặc Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát có quyền quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Viện Kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật. Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một căn cứ làm phát sinh một trình tự xét xử – trình tự xét xử phúc thẩm hay còn gọi là thủ tục phúc thẩm. Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 33 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì căn cứ để kháng nghị phúc thẩm là: việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; Có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự và có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Không phải các sai lầm nghiêm trọng nào của toà án cấp sơ thẩm cũng là đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ những sai lầm thuộc thẩm quyền quyết định của toà án cấp phúc thẩm thì mới kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu toà án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền quyết định thì dù bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng cũng không phải là căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Như vậy, khi quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, cần chú ý xem việc kháng nghị đó có khả thi hay không. Có thể nói căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là: “ bản án hoặc quyết định của toà án cấp sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng và sai lầm đó thuộc thẩm quyền quyết định của toà án cấp phúc thẩm”.

>> Xem thêm: Quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm ? Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Chỉ có Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp với toà án đã ra bản án sơ thẩm mới có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trong khi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị tất cả các bản án đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp mà không bị giới hạn. Hiện nay, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có ba Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, tương ứng với ba Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát chỉ có giá trị pháp lý khi được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền.

Viện Kiểm sát có thể kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm. Có thể kháng nghị theo hướng có lợi hoặc theo hướng không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Nhưng việc kháng nghị thủ tục phúc thẩm bị ràng buộc bởi các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền truy tố, thẩm quyền xét xử của tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm. Những gì mà bản án sơ thẩm chưa đề cập, chưa quyết định thì không thuộc đối tượng kháng nghị phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm cũng không thể căn cứ vào việc bỏ lọt tội phạm do chưa khởi tố, điều tra, truy tố để hủy bản án sơ thẩm điều tra lại hay xét xử lại được. Trường hợp Viện Kiểm sát chỉ truy tố một tội, tòa án cũng xử như cáo trạng nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp cho rằng bị cáo phạm hai tội không phải một tội thì cũng không thuộc phạm vi kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Nếu thủ tục và hình thức kháng cáo có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản thì kháng nghị của Viện Kiểm sát có thẩm quyền phải bằng văn bản và phải nói rõ lý do. Tuy nhiên, có một số bản kháng nghị chỉ nêu một cách chung chung như: “không thoả đáng, không bảo đảm tính nghiêm minh, không công bằng… và yêu cầu xét xử phúc thẩm ” thì việc đánh giá tính đúng đắn lý do kháng nghị thuộc thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm. Theo quy định tại khoản 2 Điều 233 Bộ luật Tố tụng hình sự “kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến toà án đã xử sơ thẩm”, quy định này có một ý nghĩa rất lớn ở chỗ: khi nhận được kháng nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp, toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó tiến hành làm thủ tục để gửi hồ sơ vụ án đó lên toà án cấp phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nếu toà án cấp phúc thẩm nhận được kháng nghị của Viện Kiểm sát thì phải gửi về cho toà án cấp sơ thẩm đã xét xử để tòa án cấp sơ thẩm làm thủ tục thông báo kháng nghị và chuyển hồ sơ đến toà án cấp phúc thẩm.

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Thời hạn này nói chung trên thực tế ít bị vi phạm. Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định việc xét kháng cáo quá hạn (Điều 235) và chưa có quy định việc xét kháng nghị quá hạn. Trường hợp kháng nghị quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận mà yêu cầu Viện Kiểm sát rút kháng nghị hoặc trả lại kháng nghị cho Viện Kiểm sát. Bởi lẽ, đây hoàn toàn do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình và “ việc kháng nghị không chỉ liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tốt tụng, không thể vì những vi phạm hoặc thiếu sót của cơ quan tiến hành tố tụng mà bắt người tham gia tố tụng phải chịu ”. Nếu có trường hợp quá hạn luật định mới thực hiện quyền kháng nghị thì nên chờ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật rồi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Toà án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm nhận được kháng nghị quá hạn của Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp thì hoàn trả cho Viện Kiểm sát mà không cần phải thực hiện bất cứ hành vi tố tụng nào. Tuy nhiên, để thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn để các tòa án và viện kiểm sát cấp dưới thực hiện.

Về thông báo kháng nghị, theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự thì toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm thông báo cho những người tham gia tố tụng biết vụ án đã bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Việc giao cho toà án cấp sơ thẩm thông báo kháng nghị là vì toà án cấp sơ thẩm là toà án phải làm thủ tục kháng nghị và chuyển hồ sơ vụ án bị kháng nghị lên toà án cấp phúc thẩm nên việc thông báo kháng nghị là phù hợp, không trái với pháp luật và ngoài Toà án cấp sơ thẩm không ai nắm chắc những người tham gia tố tụng.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, xét xử phúc thẩm cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê