Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về quyền im lặng trong tố tụng hình sự

Trong quy định của luật quốc tế cũng như quy định của pháp luật ở nhiều quốc gia, quyền im lặng được thừa nhận là quyền con người, một thành tố thiết yếu thiết lập nên phiên tòa công bằng. Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (ICCPR) quy định, một người không thể bị buộc để cho lời khai chống lại mình hoặc nhận mình có tội”. Ở cấp độ quốc gia, với các mức độ khác nhau, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tôn trọng và bảo vệ quyền im lặng.

Dưới sự bảo vệ của quyền im lặng, nghi phạm trong tố tụng hình sự được bảo vệ khỏi sự cưỡng bức về thể chất hoặc tinh thần từ phía nhà nước trong tố tụng hình sự thông qua các biện pháp phi chính thức như bức cung, dùng nhục hình, hoặc bằng các lệnh, quyết định chính thức. Vì vậy, quyền im lặng chính là một công cụ bảo vệ quyền tự do cá nhân trước quyền lực độc đoán của nhà nước trong tố tụng hình sự và bảo vệ sự thật vụ án bằng việc ngăn chặn người vô tội phải nhận tội.

Có thể nói, quyền im lặng là một quyền cơ bản của con người trong tố tụng hình sự và việc ghi nhận quyền này cho thể nhân (con người tự nhiên) là một chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, đối với việc trao quyền im lặng cho pháp nhân phạm tội, hiện nay các quốc gia và các hệ thống pháp luật có cách nhìn khác nhau về vấn đề này.

Vụ việc 1:

Tại Hoa Kỳ, vào năm 1906 trong vụ kiện Hale v. Henkel, Hale là thủ quỹ của Công ty MacAndrews & Forbes. Hale nhận một trát hầu tòa (subpoena) ra trước đại bồi thẩm đoàn (grand jury) liên quan đến cuộc điều tra về giá thuốc lá theo đạo luật Sherman 1890 đối với Công ty MacAndrews & Forbes. Hale đã xuất hiện trước đại bồi thẩm đoàn nhưng đã viện dẫn quyền im lặng của Tu chính án thứ 5 để từ chối cho lời khai và từ chối cung cấp một số tài liệu của Công ty MacAndrews & Forbes theo yêu cầu của đại bồi thẩm đoàn bởi lẽ ông cho rằng việc yêu cầu ông – một nhân viên của công ty – cung cấp các tài liệu có thể chống lại chính công ty đó là sự vi phạm của “không ai bị buộc phải làm chứng chống lại mình trong một vụ án hình sự”. Do đó, Hale bị kết tội khinh thị tòa án (contempt) và ông đã nộp đơn kiện để chống lại đòi hỏi việc ông phải cho lời khai và cung cấp tài liệu.

Kết quả, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết tuyên bố quyền im lặng trong Tu chính án thứ 5 của Hiến pháp Hoa Kỳ là một quyền cá nhân (personal right), và vì vậy một nhân viên không thể viện dẫn quyền im lặng của pháp nhân để từ chối cho lời khai. Ngoài ra, Tòa án tối cao còn cho rằng sự thành lập và hiện hữu của pháp nhân vốn dựa trên sự chấp thuận của quyền lực nhà nước thông qua các luật và quy định, do đó tất cả các quyền và lợi ích của pháp nhân là do nhà nước ban cho chứ không phải là các quyền tự nhiên như của thể nhân. Pháp nhân là một tạo vật của nhà nước [8]. Vì vậy, việc cho phép pháp nhân sử dụng quyền im lặng trong Tu chính án thứ 5 để bảo vệ lợi ích của pháp nhân trước quyền lực nhà nước là không có căn cứ.

Vụ việc 2:

Tại Úc, xu hướng áp dụng cũng tương tự Hoa Kỳ, tức không chấp nhận trao cho pháp nhân quyền im lặng trong tố tụng hình sự. Năm 1993, tại vụ kiện Enviroment Protection Agency v. Caltex Refining Co., công ty Caltex Refining được cung cấp giấy phép để thải ra biển một khối lượng chất thải nhất định hằng năm. Tháng 3/1990, Caltex bị cáo buộc đã vi phạm một số quy định trong giấy phép đó và Cơ quan bảo vệ môi trường Úc đã ra yêu cầu Công ty Caltex cung cấp một số tài liệu của công ty liên quan đến cáo buộc trên. Caltex đã nộp đơn kiện để từ chối cung cấp các tài liệu dựa trên cơ sở yêu cầu này đã vi phạm quyền im lặng của công ty. Cuối cùng, Tòa án cao cấp Úc (the High Court of Australia) đã ra phán quyết quyền im lặng không dành cho pháp nhân, do đó, Công ty Caltex không thể viện dẫn quyền này để từ chối cung cấp tài liệu của công ty. Lý giải cho phán quyết này, Tòa án cho rằng, quyền im lặng về bản chất là một quyền con người, nhằm bảo vệ người bị buộc tội khỏi những cách đối xử (tồi tệ) mà chỉ có thể trải qua bởi con người. Ngoài ra, Tòa án cao cấp Úc còn khẳng định, điều cốt yếu của quyền im lặng là nhằm duy trì sự cân bằng về quyền lực giữa nhà nước và người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, tránh việc người bị buộc tội ở thế yếu hơn đáng kể trước quyền lực nhà nước. Pháp nhân, với nền tảng tài chính và nhân lực, luôn ở một vị thế tốt hơn so với cá nhân trong khả năng duy trì sự cân bằng về quyền lực với nhà nước. Vì vậy, việc trao quyền im lặng cho pháp nhân trong tố tụng hình sự là không cần thiết.

Tuy nhiên, Liên minh Châu Âu lại theo xu hướng ngược lại và chấp nhận quyền im lặng dành cho pháp nhân trong tố tụng hình sự.

Vụ việc 3:

Trong vụ án Orkem SA v. Commission, Ủy ban Châu Âu đã yêu cầu Công ty Orkem cung cấp một số tài liệu liên quan đến việc điều tra về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) đối với các chất polyethylene và PVC. Công ty Orkem đã từ chối và viện dẫn quyền im lặng với lý lẽ việc cung cấp các tài liệu này có thể dẫn đến việc buộc tội chính công ty. Kết quả, Tòa án Công lý Châu Âu phán quyết công ty Orkem thắng kiện, và từ đó đã ghi nhận quyền im lặng của pháp nhân dựa trên cơ sở quyền im lặng là một quyền thành tố của quyền bào chữa thay vì xem xét quyền im lặng như là một quyền độc lập của cá nhân như xu hướng của Hoa Kỳ và Úc. Quyền bào chữa là một quyền cơ bản được bảo vệ bởi luật của Liên minh Châu Âu, và được áp dụng cho cả thể nhân và pháp nhân. Chính vì vậy, pháp nhân phải được hưởng quyền im lặng trên cơ sở được hưởng quyền bào chữa. Như vậy, có thể thấy rằng, việc trao quyền im lặng cho pháp nhân là một vấn đề đã được đặt ra trên thế giới và hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về việc có nên trao hay không trao cho pháp nhân quyền im lặng trong tố tụng hình sự.

3. Pháp luật Việt Nam về pháp nhân phạm tội và việc tham gia tố tụng hình sự của pháp nhân phạm tội

3.1. Quy định của pháp luật hình sự về pháp nhân phạm tội

Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự. Nội dung của khái niệm tội phạm đã “thể hiện một cách rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị xã hội cũng như những đặc điểm pháp lý của luật hình sự”. Đồng thời, nó còn“được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác…”.Thực tế trên thế giới, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự của nhiều nước, kể cả Trung Quốc cũng đã có quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

Tại Việt Nam, vấn đề này cũng đã được đặt ra từ khi xây dựng BLHS năm 1999. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tình hình vi phạm của pháp nhân, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, môi trường,… chưa đến mức nghiêm trọng và phổ biến như hiện nay. Ngoài ra, ở thời điểm đó cũng chưa xác định rõ phạm vi trách nhiệm và loại pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề phức tạp, cần có thời gian nghiên cứu thấu đáo hơn về mặt lý luận và thực tiễn. Do vậy, BLHS năm 1999 chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào BLHS năm 2015 không chỉ xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn mà còn trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và là kết quả của gần 16 năm (từ 1999 đến 2015) kiên trì, bền bỉ nghiên cứu, đề xuất của Chính phủ và đã được Quốc hội chấp thuận nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra.

Bên cạnh việc xuất phát từ đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng xuất phát từ ba lý do sau đây:

+ Một là, mặc dù Việt Nam đã có chế tài xử lý hành chính để xử lý các pháp nhân có hành vi vi phạm, và mặc dù việc xử lý bằng hình thức xử phạt vi phạm hành chính có thể đáp ứng tính kịp thời, nhưng lại không giải quyết được triệt để và răn đe các đối tượng có hành vi vi phạm;

+ Hai là, việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm, tránh trường hợp cá nhân lợi dụng danh nghĩa tập thể, trốn tránh trách nhiệm dưới danh nghĩa của công ty, của doanh nghiệp để thực hiện hành vi phạm tội;

+ Ba là, với tư cách là quốc gia thành viên APG, nước ta có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), trong đó có Khuyến nghị 2 liên quan đến việc “quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân”. Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, nếu Việt Nam chỉ áp dụng cơ chế xử phạt hành chính đối với pháp nhân vi phạm thì sẽ có sự bất công khi cùng hành vi vi phạm nghiêm trọng tương tự nhau mà doanh nghiệp nước ta hoạt động ở nước ngoài thì có thể bị xử lý hình sự theo pháp luật của nước sở tại, còn đối với doanh nghiệp hoạt động ở nước ta thì chỉ bị xử phạt hành chính.

3.2. Pháp luật tố tụng hình sự về sự tham gia tố tụng của pháp nhân phạm tội

Có thể thấy rằng, khác với thể nhân, pháp nhân không thể tự mình tham gia tố tụng hình sự mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) đã bổ sung chế định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; đồng thời, quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong quá trình tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người đại diện của pháp nhân[19]. Pháp nhân, thông qua một cá nhân cụ thể, thể hiện ý chí của mình, có quyền đưa ra các lý lẽ, lập luận, đưa ra lời khai, ý kiến, chứng cứ, đồ vật, tài liệu.. để bảo vệ cho pháp nhân trong quá trình tham gia tố tụng hình sự.

Theo đó, khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện, cơ quan tố tụng phải khởi tố vụ án hình sự. Quá trình tham gia tố tụng của pháp nhân, ngay từ những giai đoạn đầu tiên được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân[20]. Khoản 1 Điều 434 BLTTHS quy định: “Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền”.

Để thống nhất với khái niệm tội phạm tại Điều 8 của BLHS năm 2015, khái niệm bị can, bị cáo trong BLTTHS cũng được quy định bao gồm cả thể nhân và pháp nhân. Khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015 quy định bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của BLTTHS. Khoản 1 Điều 61 của Bộ luật này cũng quy định bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của BLTTHS.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015), đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (Điều 134). BLDS cũng liệt kê ba trường hợp có thể người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, theo đó, (1) người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (2) người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (3) người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án (Điều 137). BLHS cũng không giới hạn số lượng người đại diện của pháp nhân, theo đó, một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của BLDS năm 2015.

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng là người do pháp luật hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để đại diện cho pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của pháp nhân, đại diện cho pháp nhân với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thường giữ những chức vụ quan trọng trong pháp nhân như Chủ tịch Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc. Với mỗi loại hình công ty, người đại diện theo pháp luật sẽ giữ các chức danh khác nhau.

3.3. Quyền im lặng của pháp nhân phạm tội trong tố tụng hình sự tại Việt Nam

Điều 60 và Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định rõ bị can, bị cáo có quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc nhận mình có tội”. Bên cạnh đó, theo quy định của Điều 435 BLTTHS năm 2015, người đại diện có quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại pháp nhân mà mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà mình đại diện có tội”. Như vậy, có thể khẳng định, pháp luật TTHS Việt Nam đã theo xu hướng của Liên minh Châu Âu, chấp nhận trao quyền im lặng cho pháp nhân thương mại phạm tội trong tố tụng hình sự, và quyền này được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

Theo quy định của pháp luật TTHS, quyền im lặng của pháp nhân đã được chuyển giao qua người đại diện của pháp nhân. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, mục tiêu của quyền im lặng là nhằm bảo vệ người bị buộc tội trước tình trạng dùng nhục hình của cơ quan điều tra nhằm thu thập lời khai, đặc biệt là trong trường hợp người bị buộc tội bị tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, người đại diện của pháp nhân phạm tội không thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam, và bị cách ly khỏi đời sống xã hội. Mặt khác, người đại diện của pháp nhân phạm tội thường nhận được sự hỗ trợ từ lực lượng luật sư tư nhân, hoặc từ bộ phận pháp lý của pháp nhân, bởi nguồn tài lực dồi dào so với cá nhân bị buộc tội. Do đó, nguy cơ người đại diện của pháp nhân phạm tội có khả năng bị bức cung, dùng nhục hình trong quá trình thẩm vấn lấy lời khai là rất thấp, nếu không muốn nói là hoàn toàn không có. Vì vậy, việc quy định pháp nhân phạm tội có quyền im lặng, và quyền im lặng được thực hiện thông qua người đại diện nhằm mục đích chống bức cung, nhục hình trong khi thẩm vấn là hoàn toàn không cần thiết.

Thứ hai, tuy người đại diện của pháp nhân đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng, nhưng cơ quan có quyền quyết định mọi hoạt động, thể hiện ý chí của pháp nhân thương mại là chủ sở hữu công ty (nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), Hội đồng thành viên (nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên), và Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị (nếu là công ty cổ phần). Quan trọng hơn, BLTTHS năm 2015 cho phép cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội trong trường hợp có nhiều người đại diện khác nhau. Mặt khác, thông thường, khi một pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó đều có khả năng liên quan, trực tiếp hoặc gián tiếp, đến hành vi phạm tội của pháp nhân, thậm chí có thể chịu trách nhiệm hình sự cá nhân. Như vậy, có thể thấy, pháp nhân và người đại diện của pháp nhân là hai chủ thể độc lập với nhau, có khả năng xung đột lợi ích với nhau trong cùng một vụ án hình sự.

Bên cạnh đó, quan trọng hơn, pháp nhân thương mại là một tổ chức có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, với nhiều cá nhân, tổ chức bên trong pháp nhân đó với tư cách là chủ sở hữu, nhân viên, và người lao động khác. Khi một cuộc điều tra hình sự xảy ra đối với một pháp nhân thương mại cụ thể, nhiều khả năng các cá nhân, tổ chức bên trong pháp nhân đó sẽ được lấy lời khai nhưng các cá nhân này lại không có quyền im lặng để từ chối cung cấp các thông tin gây bất lợi cho pháp nhân của mình. Có thể thấy, các cá nhân đó thuộc về pháp nhân, là một bộ phận cấu thành nên pháp nhân nhưng lại không có quyền từ chối cung cấp các thông tin mang tính buộc tội pháp nhân đã xâm phạm phần nào đến quyền im lặng của pháp nhân trên thực tế.

Thứ ba, căn cứ theo phân tích câu từ của BLTTHS năm 2015, phạm vi tác động của quyền im lặng chỉ bao gồm lời khai chống lại mình và lời nhận tội (gọi chung là lời khai). Có nghĩa là, quyền im lặng tại BLTTHS năm 2015 chỉ có phạm vi tác động đến lời khai mà không bảo vệ các hành vi mang tính chất tự buộc tội, cụ thể là hành vi cung cấp tài liệu mang tính buộc tội chính mình. Như vậy, quyền im lặng của pháp nhân tại Việt Nam cũng chỉ giới hạn đến phạm vi là lời khai, lời nhận tội của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Có thể thấy, nếu một pháp nhận bị buộc tội bị yêu cầu cung cấp tài liệu có chứa nội dung mang tính buộc tội chính mình, pháp nhân đó không thể viện dẫn quyền im lặng của mình để từ chối cung cấp.

Trên cơ sở các phân tích trên, quan điểm của tác giả cho rằng cần hoàn thiện chế định về quyền im lặng của pháp nhân phạm tội trong TTHS của Việt Nam theo hướng bỏ hẳn quyền im lặng của pháp nhân trong tố tụng hình sự. Bởi lẽ, việc quy định quyền này cho pháp nhân là không cần thiết và không phù hợp với mục đích chống bức cung, nhục hình trong quá trình thẩm vấn. Đồng thời, việc sao chép cơ học các quy định này từ quyền của thể nhân sang quyền của pháp nhân cũng khiến các quy định này không có tác dụng trên thực tế mà phát sinh ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp, khó giải quyết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập