Bởi, đương sự chỉ có thể chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có chứng cứ, toà án chỉ có thể giải quyết đúng được vụ việc dân sự khi có đầy đủ các chứng cứ để làm rô được cầc vấn đề của vụ việc dân sự.

Các chủ thể chứng minh nói chung đều có quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ. Trong tố tụng dân SỊự, đương sự có nghĩa vụ chứng minh chủ yểu nên đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải tiến hành thu thập các chứng cứ để cung cấp cho toà án. Khi thấy chưa đủ chứng cứ, tài liệu của để giải quyết vụ việc dân sự, thì toà án xác định các chứng cứ, tài liệu cần thu thập và yêu cầu các đương sự cung cấp. Toà án tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp pháp luật có quy định. Đe bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự, các biện pháp thu thập chứng cứ, trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của các chủ thể tố tụng phải được pháp luật quy định cụ thể. Các chủ thể tố tụng khi tiến hành thu thập chứng cứ phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật đã quy định.

Đối với các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được áp dụng một hoặc một số biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để thu thập chứng cứ, bao gồm: Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người làm chứng và lẩy xác nhận của người làm chứng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tộ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lí; yêu cầu uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ kí của người làm chứng; yêu cầu toà án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu toà án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản và yêu cầu cơ quan, tộ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định được đầy đủ trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự, người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Đổi với toà án, được áp dụng một hoặc một số biện pháp quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp pháp luật có quy định, bao gồm: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; uỷ thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú và các biện pháp khẩc theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ của toà án hiện nay được quy định đầy đủ tại các đỉều từ Điều 97 đến Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ là trưng cầu giám định, định giá tài sản, xem xét, thẩm định tại chỗ, uỷ thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liêm quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự toà án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lí do và yêu ẹầụ của toà án. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như lẩy lời khai của đương sự, người làm chứng, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, hghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự và xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú. Khi thẩm tra viên tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ là yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cúng cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự thì toà án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lí do và yêu cầu cúa toà án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kệ từ ngày tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, toà án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

Đối với viện kiểm sát, trong trường hợp thực hiện thẩm quyền kháng nghi theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có quyền thu thập chứng cứ. Các biện pháp viện kiểm sát sử dụng để thu thập chứng cứ được giới hạn trong phạm vi biện pháp yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về chứng minh, chứng cứ cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê