1. Lịch sử hình thành thuế thu nhập cao

Trên thế giới, thuế đánh vào thu nhập cá nhân là loại thuế được áp dụng sớm hơn nhiều loại thuế khác. Ví dụ: Thuế thu nhập dân cư được áp dụng ở Anh từ năm 1841, ở Nhật năm 1887, ở Pháp năm 1914, ở miền Nam Việt Nam chính quyền Sài Gòn cũ áp dụng thuế thu nhập dân cư từ năm 1962. Trước đây, trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước quản lí chặt chẽ các nguồn thu nhập và mức thu nhập của dân cư thấp nên ở nước ta không thu thuế thu nhập dân cư. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường kéo theo sự chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư trong xã hội. Thực tế đó đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ điều tiết thu nhập của dân cư, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp xã hội, động viên một phần thu nhập của người có thu nhập cao vào ngân sách nhà nước nhằm tạo cơ sở về tài chính để Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội.

Do đó, ngày 28.12.1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về loại thuế này (còn gọi là thuế thu nhập cá nhân hay thuế thu nhập dân cư). Tương tự như cách phân loại thu nhập chịu thuế áp dụng phổ biến ở các nước, pháp luật Việt Nam phân chia thu nhập chịu thuế làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Việc xác định thu nhập chịu thuế của mỗi loại thu nhập dựa vào quy định thu nhập khởi điểm chịu thuế. Ví dụ: thu nhập thường xuyên của công dân Việt Nam theo quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ban hành năm 2004 có khởi điểm chịu thuế từ trên 5 triệu đồng (VNĐ)/tháng, còn đối với thu nhập không thường xuyên khởi điểm chịu thuế áp dụng chung cho tất cả các đối tượng nộp thuế là từ trên 2 triệu đồng (VNĐ). Đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế. Pháp luật của các nước thường quy định đối tượng cư trủ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập dân cư trên toàn bộ thu nhập có nguồn tại nước sở tại và đối với cả các khoản thu nhập từ nguồn nước ngoài được mang vào hoặc nhận ở nước sở tại. Đối tượng không cư trú chỉ phải nộp thuế thu nhập dân cư đối với thu nhập phát sinh từ nguồn tại nước sở tại.

Người nước ngoài được xem là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng kể từ khi đến Việt Nam; được xem là không cư trú nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày. Thời gian cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được tính 12 tháng liên tục cho năm tính thuế đầu tiên, những năm sau tính theo năm dương lịch, ngày đến và ngày đi được tính là một ngày.

Tương tự như biểu thuế áp dụng phổ biến ở các nước, biểu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay là biểu thuế lũy tiến.

2. Các loại thuế thu nhập hiện nay

Trong hệ thống luật thực định về thuế ở các nước, thuế thu nhập được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập công ti và thuế thu nhập cá nhân. Việc phân chia thuế thu nhập thành hai loại thuế nêu ttên là căn cứ vào đối tượng nộp thuế thu nhập. Ở Việt Nam, thuế thu nhập cũng được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Cách phân chia thuế thu nhập của Việt Nam hiện nay cơ bản giống các nước khác dựa vào tiêu chí đối tượng nộp thuế thu nhập để phân chia.

- Thuế thu nhập công ty:

Thuế thu nhập công ti là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cơ sở kinh doanh trong kì tính thuê. Tuy nhiên, luật các nước không có sự đồng nhất trong việc xác định phạm vi đối tượng nộp thuế. Chẳng hạn, Luật thuế thu nhập công ti của Thụy Điển quy định: “Cấc công ti, các chủ thể kỉnh doanh có sổ vốn từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng nộp thuế thu nhập công ti”. Còn Bộ luật thuế thu nhập của Thái Lan quy định: “đối tượng nộp thuế thu nhập công ti chỉ bao gồm các công ti và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp nhân. Pháp luật Mỹ, Nhật cũng quy định chủ thể kinh doanh là các tồ chửc kinh tế thì phải nộp thuế thu nhập công ti”. Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức kinh doanh cé thu nhập. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, cá nhân kinh doanh, hộ gia đình có thu nhập từ kinh doanh cũng không còn là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Dịch vụ kế toán thuế uy tín, chuyên nghiệp cho doanh nghiệp

Pháp luật thuế thu nhập của các nước thường sử dụng dấu hiệu “cư trú” hay “không cư trú” làm căn cứ xác định các khoản thu nhập chịu thuế. Đối tượng cư trú phải nộp thuế với mọi khoản thu nhập chịu thuế phát sinh ở cả trong và ngoài nước. Còn đối tượng không cư trú chỉ phải nộp thuế với khoản thu nhập phát sinh ở nước sở tại. Tuy nhiên, cách xác định đối tượng cư trú ở các nước cũng khác nhau. Chẳng hạn, pháp luật Thái Lan, Indonesia quy định doanh nghiệp được coi là cư trú là doanh nghiệp được thành lập hay hợp nhất tại các nước đó. Pháp luật của Singapore, Malaysia, Brunei quy định đối tượng cư trú là đối tượng đóng vai trò quản lí, điều hành đối với toàn bộ hoạt động của đối tượng nộp thuế. Pháp luật Mỹ, Nhật quy định một công ti được coi là cư trú nếu công ti được thành lập ở nước đó. Trong đó, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam quy định đối tượng cư trú rộng hơn quy định của các nước khác, cụ thể: Các tổ chức kinh doanh được coi là đối tượng cư trú theo các tiêu chuẩn là hoặc thành lập hoặc đãng kí kinh doanh tại Việt Nam hoặc có trụ sở đặt tại Việt Nam đóng vai trò thực tế điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thuế thu nhập công ti ở các nước đều được tính trên thu nhập chịu thuế ưong một khoảng thời gian xác định là năm tài chính. Thu nhập chịu thuê được tính trên cơ sở là doanh thu trừ chi phí hợp lí cộng với các khoản thu nhập khác. Đa số các nước đều áp dụng thuế suất thuế thu nhập công ti theo tỉ lệ phần trăm cố định để đảm bảo công bằng và thuận lợi trong công tác quản lí thu nộp thuế. Đồng thời, thuế thu nhập công ti ở các nước đều có quy định về chế độ ưu đãi thuế, miễn giảm thuế. Tuy nhiên, do chính sách, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của từng quốc gia là khác nhau mà các nước có sự quy định khác nhau về ưu đãi thuế cho ngành nghề, lĩnh vực đầu tư. Ở Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp .cũng có quy định về sự ưu đãi về thuế như quy định mức thuế suất ưu đãi, quy định về các trường hợp được miễn, giảm thuế cho các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư theo chủ trương phát triển kinh tế-xã hội của Đàng và Nhà nước.

Thuế thu nhập công ti tác động tới nhiều nhân tố trong xã hội. Thuế thu nhập công ti tác động tới tới sự phân phối thu nhập, tiền lương, tác động để khả năng khai thác thu hút vốn đầu tư, tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế... Do tác động của thuế thu nhập công ti rất lớn nên việc xây dựng pháp luật về thuế thu nhập hoàn thiện là đỉều mà tất cả các nước đều hướng tới.

- Thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuê trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần. Chính vì thế thuế thu nhập cá nhân mang một số đặc điểm sau:

- Có diện đanh thuế rộng là tất cả các cá nhân có thu nhập chịu thuế.

- Thuế thu nhập cá nhân luôn gan với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.

- Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc lũy tiến từng phần.

Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841) sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỉ suất thuế thu nhập cá nhân lớn nhất thế giới chiếm tới 35 - 60% tổng thu từ thuế vào ngân sách nhà nước. Trung Quốc, thuế thu nhập cá nhân ra đòi từ năm 1914 nhưng đến tận năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập. Ở Pháp, thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1916, Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc năm 1974 và cho đến nay theo thống kê của ERNST & YOUNG tại “The global Excutịve” tính đến ngày 15/9/2001 thế giới có 136 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân.

Thuế thu nhập cá nhân được tính theo hai phương pháp chính sau:

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn thủ tục khiếu nại về thuế uy tín, chuyên nghiệp

- Phương pháp tính thuế theo từng hộ gia đình, phương pháp này được áp dụng ở Pháp, Hà Lan... Với phương pháp tính thuế này, bào đảm tính công bằng xã hội cao hơn nhưng phức tạp bởi hộ gia đình phải mở sổ sách kế toán theo dõi nguồn thu nhập cùa các thành viên trong gia đình. Do tính phức tạp của phương pháp này nên có rất ít nước áp dụng.

- Phương pháp tính thuế thu nhập đối với từng cá nhân, phương pháp tính thuế này được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Điển, các nước châu Phi, Hungary... Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ làm, đàm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, phương pháp tính thuế này có điểm hạn chế là chưa đảm bào yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu đảm bảo công bằng xã hội, nhất là các cá nhân có người ăn theo.

Đa số các nước đều áp dụng đánh thuế theo tiêu thức nơi cư trú nhưng ở mỗi nước lại cố những định nghĩa khác nhau.

Nhiều nước quy định cá nhân cư trú là người sống thường xuyên từ 183 ngày trở lên trong một năm ở một nước. Một số nước khác lại quy định cụ thể hơn. Chẳng hạn ở Pháp, một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt ở Pháp trên 6 tháng trong 1 năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập. Ở Nhật, pháp luật quy định cụ thể ba trường hợp là: cư trú thường xuyên (là người định cư thường xuyên ở Nhật được đánh thuế đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên); cư trú không thường xuyên (là người không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có thường trú ở Nhật từ 1-5 năm, thuế sẽ đánh vào nguồn thu nhập có phát sinh tại Nhật); đối tượng không cư trú (là người không có nơi định cư hoặc sống ở Nhật dưới một năm phải có hợp đồng lao động hoặc giấy tờ khác chứng minh) thì không phải nộp thuế thu nhập. Ở Mỹ, cá nhân cư trú là công dân Mỹ và những người sinh sống ở Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm. ở Hồng Kông thì không phân biệt theo cư trú, mọi người sống ở Hồng Kông đều phải nộp thuế thu nhập đối với các khoản thuế thu nhập phát sinh ở Hồng Kông.

Ở Việt Nam cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các đỉều kiện: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng kí thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện trên.

Về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân, các nước cũng có quy định về vấn đề này tùy theo ttình độ phát triển kinh tế-xã hội của từng quốc gia. Ví dụ như Mỹ quy định “suất miễn giảm thu nhập” cho người nộp thuế có người ăn theo. Người nộp thuế trong trường hợp này phải chứng minh được rằng mình phải cung cấp quá nửa sự hỗ trợ cho cá nhân ăn theo thì sẽ được miễn thu 2.350 USD/năm. Mức này được xác định theo tỉ lệ lạm phát từng năm có sự đỉều chỉnh.

Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay có nhiều điểm tương đồng với pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở nước khác. Chẳng hạn, pháp luật thuế thu nhập cá nhân lấy tiêu chí là “nơi cư trú” để xác định đối tượng nộp thuế.

Xét dưới góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân thay đổi không ảnh hưởng sâu sắc tới việc thay đổi cơ cấu kinh tế. Nhưng cũng có thể thấy được rằng thuế thu nhập cá nhân là loại thuế phức tạp, có diện đánh thuế rộng, khi tính toán phải xét tới gia cảnh của người nộp thuế và các chính sách xã hội có liên quan.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Miễn thuế là gì ? Chế độ giảm thuế thu nhập cá nhân