1. Xét xử lưu động là gì?

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về xét xử lưu động, gọi: 1900.6162

Chào luật sư, xin Luật sư cho em hỏi: Xét xử lưu động là gì? Xét xử lưu động có khác gì so với xét xử ở tòa án không? Em xin chân thành cảm ơn !
Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi, đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Xét xử lưu động là việc toà án đưa vu án ra xét xử (tổ chức phiên toà) công khai không phải tại trụ sở Tòa án mà thường tại nơi tội phạm được thực hiện. Cũng giống như các phiên toà bình thường, bị cáo bị xét xử bằng phiên toà lưu động vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Các vụ án được đưa ra xét xử lưu động thường là những vụ án liên quan đến ma túy, giết người.

Thực tế cho thấy, phần lớn các phiên tòa xử tại trụ sở Tòa án thường vắng người, ngoài những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập chỉ có thêm một vài người nhà bị cáo, thậm chỉ có những phiên tòa chỉ có một mình bị cáo. Trái lại, hầu hết những phiên tòa xử lưu động thì nhiều người không thể chen nổi vào hội trường xét xử, nhiều nơi phải xử ở ngoài trời để mọi người đều được theo dõi phiên tòa. Do đó, không ai có thể phủ nhận tính hiệu quả của hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phiên tòa xét xử lưu động. Điển hình cho việc xét xử lưu động trong thời gian gần đây là ngày 28/10/2015, TAND tỉnh Yên Bái đã đưa vụ án Giết người xảy ra tại thôn 16, xã Lâm Giang, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái khiến 4 người trong một gia đình thiệt mạng ra xét xử lưu động, tại Trung tâm Văn hóa - Thông tin huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Bị cáo trong vụ thảm sát này là Đặng Văn Hùng. Phiên tòa lưu động đã thu hút sự tham gia của khoảng 2000 người.

Nhìn từ góc độ lợi ích chung thì phiên tòa lưu động là cơ hội để trực tiếp chuyển tải các quy định của pháp luật đến với người dân; ngoài tác dụng phổ biến pháp luật còn có tác dụng cảnh báo, răn đe giáo dục chung đối với mọi người. Tuy nhiên, đối với bị cáo thì hầu như không ai mong muốn bị đưa đi xét xử tại nơi cư trú, nơi làm việc. Cuộc sống của người dân có tính cộng đồng rất cao (nhất là ở nông thôn), ai bị mọi người xa lánh, tẩy chay cũng là phải chịu một hình phạt rất nặng nề. Vì vậy, việc bị cáo bị đưa đi xét xử lưu động, ngoài phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự thì họ còn phải chịu một sức ép nặng nề trước bà con họ hàng, bạn bè lối xóm và chịu thêm một hình phạt từ phía cộng đồng xã hội - đó là sự lên án, xa lánh. Thực tế cho thấy, có nhiều bị cáo với tâm lý hổ thẹn với mọi người nên đã tự tử trước ngày vụ án được đưa ra xét xử lưu động.

Trước thực trạng này, tại nhiều diễn đàn còn tồn tại những quan điểm là nên hay không nên xét xử lưu động. Để đưa ra được một đánh giá khách quan, các nhà lập pháp cần phải cân đo dựa trên những tích cực và hạn chế mà xét xử lưu động mang lại, cần quy định những vụ án như thế nào thì được xét xử lưu động. Không thể để tình trạng "thích thì làm" như ở một số tòa án hiện nay.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Không cấp dưỡng có phạm luật không?

2. Một số vấn đề cần chú ý khi tổ chức xét xử lưu động vụ án hình sự sơ thẩm.

Là các vụ án mà việc giải quyết các vụ án đó được xác định là quan trọng, lãnh đạo ba ngành Công an, Viện Kiểm sát và Toà án có trách nhiệm thống nhất chỉ đạo, ưu tiên sử dụng lực lượng để điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian ngắn nhất, đảm bảo xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương và cả nước.

2.1 Án trọng điểm (gọi tắt là án điểm)

Tầm quan trọng của việc giải quyết các vụ án điểm được đo bằng các khách thể bị xâm phạm. Tính chất nguy hiểm của hành vi được xác lập bởi các nhóm quan hệ xã hội mà Nhà nước bảo vệ khi bị hành vi đó xâm hại và được biểu hiện bằng:

+ Đối tượng bị xâm hại (hay giá trị xã hội được bảo vệ)

+ Hậu quả do hành vi gây ra.

Hai dấu hiệu nêu trên cũng chính là thước đo tính nguy hiểm của hành vi.

2.2 Các căn cứ xác định án trọng điểm

+ Các vụ án trọng điểm là các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, kinh tế và trật tự an toàn xã hội đã cản trở việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc gây ảnh hưởng chính trị xấu trong quần chúng nhân dân, dư luận xã hội đòi hỏi phải đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh nhằm đáp ứng yêu cầu chính trị, ngăn chặn tội phạm phát triển, góp phần giải quyết một tình trạng tiêu cực nhất định trong xã hội.

Vụ án trọng điểm không nhất thiết phải là vụ án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng nhất thiết phải là vụ án mà việc giải quyết nó có tầm quan trọng nhất định.

Khi xác định các vụ án trọng điểm phải căn cứ vào nhiệm vụ chính trị chung của cả nước được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ trọng tâm của địa phương vào thời điểm phát hiện tội phạm.

Trên tinh thần của chỉ đạo của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, việc chọn, xác định án điểm cũng phải đáp ứng được yêu cầu thực hiện tốt các Nghị quyết này của Bộ Chính trị.

+ Căn cứ vào khả năng thực tế trong việc giải quyết các vụ án hình sự của ba ngành Công an- Viện Kiểm sát- Toà án để xác định các vụ án trọng điểm cho phù hợp. Tránh khuynh hướng chọn quá nhiều vụ án trọng điểm, không đảm bảo được việc giải quyết các vụ án kịp thời, khẩn trương, thận trọng, chính xác. Đồng thời cũng tránh khuynh hướng cầu toàn, không tích cực chọn án điểm, không chọn được án điểm hoặc chọn quá ít các vụ án điểm.

Việc chọn các vụ án trọng điểm do ba ngành Công an- Viện Kiểm sát- Toà án trung ương chỉ đạo cũng phải đảm bảo đúng các căn cứ nêu trên. Vụ án trọng điểm do ba ngành Trung ương chọn ở các địa phương phải được coi là vụ án trọng điểm của địa phương.

Ba ngành Công an- Viện Kiểm sát- Toà án ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cũng như ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, cần dựa vào các căn cứ, (tiêu chuẩn) nêu trên để xác định, lựa chọn các vụ án trọng điểm của cấp mình.

2.3 Xét xử lưu động vụ án hình sự sơ thẩm

+ Xét xử lưu động vụ án hình sự lưu động là đưa vụ án hình sự đó về xét xử tại địa phương xảy ra vụ án đó (cũng có nghĩa là vụ án đó không xét xử tại trụ sở Toà án).

Cho đến nay, Toà án nhân dân tối cao cũng chưa ban hành văn bản nào hướng dẫn cụ thể về các căn cứ, tiêu chuẩn để lựa chọn, xác định những loại vụ án nào (loại tội phạm nào) cần đưa ra xét xử lưu động. Tuy nhiên, trong rất nhiều văn bản của Toà án nhân dân tối cao như các báo cáo Quốc hội, báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, báo cáo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về đấu tranh phòng chống các loại tội phạm thì vấn đề tổ chức các phiên toà lưu động luôn được quan tâm và gần như gắn chặt với việc lựa chọn, xác định và giải quyết các vụ án trọng điểm của từng Toà án và của toàn ngành. Hơn thế, việc xét xử lưu động các vụ án hình sự sơ thẩm còn là một tiêu chí chấm điểm thi đua và là một nhiệm vụ được lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao quan tâm để phân bổ kinh phí cho hoạt động này. Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy mỗi năm, trung bình ngành Toà án đã tổ chức xét xử khoảng trên 3.000 vụ án lưu động. Hầu hết các vụ án được đưa ra xét xử lưu động là các vụ án về các tội ma tuý, mại dâm, giết người, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, các vụ án về tham nhũng, buôn lậu v.v…

Đối chiếu lại các loại tội phạm nêu trên với căn cứ để xác định án trọng điểm thì thấy rằng hầu hết các căn cứ để xác định vụ án trọng điểm cũng là những căn cứ để tổ chức các phiên toà xét xử lưu động vụ án hình sự. Nhưng cũng còn có một vài điểm không đồng nhất giữa việc xác định án điểm và vụ án được tổ chức xét xử lưu động. Đó là:

- Một số vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia như các tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 Bộ luật hình sự); tội gián điệp (Điều 110 Bộ luật hình sự); tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 Bộ luật hình sự)…

- Một số tội phạm khi đưa ra xét xử công khai, lưu động có thể ảnh hưởng không tốt đến thuần phong mỹ tục hoặc gây mặc cảm không tốt cho người bị hại, người làm chứng như các tội phạm về tình dục; hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự); Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 Bộ luật hình sự); Tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 Bộ luật hình sự); Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 Bộ luật hình sự); Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 Bộ luật hình sự)…

- Một số tội phạm vì lý do bí mật quốc gia cần thiết phải xét xử kín.

Như vậy, tuy các vụ án (loại tội phạm) nêu trên có thể đáp ứng tiêu chuẩn (căn cứ) để chọn làm án trọng điểm nhưng lại không phải là căn cứ để chọn để tổ chức phiên toà lưu động, xét xử công khai tại địa phương xảy ra vụ án. Những vụ án này thường được xét xử tại trụ sở Toà án để tránh những ảnh hưởng không tốt thậm chí là phản tác dụng nếu xét xử lưu động.

+ Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc tổ chức xét xử lưu động vụ án hình sự sơ thẩm.

* Mục đích đưa các vụ án hình sự sơ thẩm (cũng có thể là hình sự phúc thẩm) đi xét xử lưu động nhằm:

- Thông qua trình tự, thủ tục xét xử tại phiên toà để giáo dục, nâng cao sự hiểu biết của đông đảo quần chúng nhân dân về các quy định của pháp luật. Làm cho người dân hiểu được hành vi của bị cáo (hoặc các bị cáo) là vi phạm pháp luật và phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội đó (tức là tính nguy hiểm của hành vi phạm tội).

- Đề cao tác dụng của công tác xét xử khi người dân được trực tiếp theo dõi diễn biến của phiên toà, các phán quyết của Toà án.

3. Ý nghĩa của phiên toà lưu động:

- Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại các phiên toà lưu động có tác dụng trực tiếp đến những người tham dự hoặc theo dõi phiên toà. Tạo ra sự quan tâm của đông đảo cộng đồng dân cư trong khu vực hoặc ở địa phương. Giúp cho nhân dân dễ hiểu, dễ nhớ những quy định pháp luật mà họ được nghe trực tiếp.

- Nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

- Đề cao tính răn đe (trừng trị) và tính giáo dục, thuyết phục của phiên toà nói chung và trong bản án, quyết định của Toà án nói riêng.

4. Yêu cầu của phiên toà lưu động:

- Việc lựa chọn vụ án để tổ chức xét xử lưu động phải hết sức thận trọng, chính xác, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đòi hỏi của dư luận xã hội, có tác dụng ngăn chặn phát triển của tội phạm (hay tác dụng tốt trong việc phòng ngừa tội phạm).

- Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành Công an, Viện kiểm sát, Toà án trong việc lựa chọn, xác định và quyết định tổ chức xét xử lưu động vụ án. Như vậy, các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Toà án cũng cần phải khẩn trương ưu tiên lực lượng cán bộ để tập trung điều tra, truy tố và xét xử để đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, kịp thời, chính xác.

- Phải có sự kết hợp chặt chẽ, phân công cụ thể trách nhiệm giữa các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, Công an và chính quyền địa phương nơi đưa vụ án về xét xử lưu động. Sự phối hợp này nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho phiên toà về mặt an ninh, trật tự.

- Trong quá trình xét xử phải làm rõ những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội dẫn tới là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm để đề xuất, kiến nghị những biện pháp khắc phục ngay.

5. Các vấn đề cần lưu ý:

5.1. Trước khi thụ lý hồ sơ vụ án

Như đã nêu ở phần trên, hầu hết các vụ án điểm đều có thể tổ chức xét xử lưu động và các yêu cầu đặt ra với các vụ án điểm, các phiên toà lưu động. Để đảm bảo việc đưa vụ án ra xét xử nhanh gọn, kịp thời, chính xác, hạn chế tới mức thấp nhất việc phải hoàn trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tại phiên toà phải hoãn xử vì cần phải điều tra bổ sung (tức là phải hoàn trả hồ sơ cho Viện kiểm sát) thì khi vụ án đã được kết thúc điều tra, Toà án phải cử Thẩm phán theo dõi để nắm chắc nội dung vụ án, khi cần thiết thì nêu ngay yêu cầu để Viện kiểm sát giải quyết, điều tra bổ sung nhằm phục vụ cho công tác xét xử thuận lợi.

Đây cũng là vấn đề phối hợp giữa ba ngành Công an, Viện kiểm sát và Toà án nhưng chỉ có ý nghĩa cùng nhau đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án chứ hoàn toàn không được xâm phạm can thiệp vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan tiến hàng tố tụng. Có nghĩa là Toà án (Thẩm phán được cử theo dõi vụ án) không được trực tiếp tham gia vào quá trình điều tra hoặc điều tra bổ sung cũng không được tham gia vào quá trình truy tố của Viện kiểm sát. Ngược lại, các cơ quan điều tra, truy tố cũng không được can thiệp vào quá trình xét xử của Toà án.

Tuy nhiên, mối quan hệ phối hợp nêu trên (thực chất là phương pháp làm việc) của các cơ quan tố tụng càng chặt chẽ càng tốt thì kết quả càng tốt. Một số địa phương vẫn duy trì chế độ giao ban giữa lãnh đạo Công an, Toà án, Viện kiểm sát để kiểm điểm, trao đổi giải quyết về một số vướng mắc trong quá trình xử lý vụ án để đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

5.2. Chuẩn bị xét xử

a/ Thụ lý hồ sơ vụ án

Thụ lý hồ sơ vụ án là tác nghiệp của thư ký Toà án. Do đó khi kiểm tra vụ án thư ký phải chú ý kiểm tra bảng kê tài liệu có trong hồ sơ vụ án xem có đúng với các bút lục của hồ sơ vụ án không. Nếu thiếu tài liệu hoặc có những sai sót trong các tài liệu như chưa ký, đóng dấu, chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định nêu trong các mẫu tố tụng như không điền tên thủ trưởng cơ quan điều tra hoặc điều tra viên, không giải thích quyền, nghĩa vụ cho người được lấy lời khai, thiếu chữ ký xác nhận của đương sự v.v… thì tuỳ từng trường hợp yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung ngay để thụ lý hoặc phải trả hồ sơ (chưa nhận hồ sơ, chưa thụ lý).

Tác nghiệp kiểm tra hồ sơ vụ án rất quan trọng vì đây là "đầu vào" đầu tiên nên nếu càng thận trọng thì càng giúp cho việc giải quyết vụ án nhanh, khắc phục được việc đã thụ lý hồ sơ rồi mới phát hiện ra những thiếu sót và phải trả hồ sơ, kéo dài vụ án không cần thiết.

Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, thư ký báo cáo ngay với lãnh đạo Toà án (hoặc lãnh đạo Toà Hình sự Toà án nhân dân cấp tỉnh) để phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà cũng cần phải lựa chọn là những Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử các vụ án hình sự. Trường hợp vụ án đó vừa là án điểm, đặc biệt quan trọng, vừa tổ chức xét xử lưu động thì Chánh án hoặc Phó Chánh án phải trực tiếp làm chủ toạ phiên toà.

Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể bao gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Vic lựa chọn Thẩm phán và Hội thẩm tham gia phiên toà (là thành viên trong Hội đồng xét xử) cũng cần chú ý đến kinh nghiệm xét xử của Thẩm phán. Đối với Hội thẩm cần chú ý mời các vị Hội thẩm có kinh nghiệm xét xử và thuộc lĩnh vực chuyên môn của họ. Chẳng hạn khi xét xử một vụ án về kinh tế thì nên mời các vị Hội thẩm am hiểu về quản lý kinh tế.

Trong trường hợp cần thiết, phải chú ý bố trí Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để có thể giải quyết việc thay thế thành viên Hội đồng xét xử khi có thành viên không thể tiếp tục tham gia xét xử được (chú ý Điều 186 Bộ luật tố tụng hình sự).

b/Nghiên cứu hồ sơ vụ án

Trong trường hợp không phải ra các quyết định trả hồ sơ, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ tức là xét thấy có thể đưa vụ án ra xét xử thì tuỳ theo tính chất của vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn mà pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Thời hạn đó là: Ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc ra hạn thời hạn xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, chủ toạ phiên toà, Thẩm phán (nếu Hội đồng xét xử là Năm người) và các Hội thẩm nhân dân cần nghiên cứu kỹ, nắm thật vững nội dung, tính chất đặc điểm, yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương hoặc cả nước. Cần phải trích tiểu hồ sơ vụ án để thuận tiện trong việc xét hỏi, tranh luận, nghị án tại phiên toà. Trường hợp hồ sơ có nhiều tập thì khi trích tiểu hồ sơ cần ghi rõ số bút lục và số tập hồ sơ để thuận tiện khi cần sử dụng tại phiên toà.

Chủ toạ phiên toà cần thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, trích tiểu hồ sơ để lên kế hoạch xét hỏi, dự kiến phân công các thành viên Hội đồng xét xử cùng tham gia việc xét hỏi để tránh việc lặp lại câu hỏi không cần thiết.

Trước khi mở phiên toà, thư ký Toà án cần giúp Thẩm phán sắp xếp lại hồ sơ vụ án theo đúng thứ tự các bút lục, các tập hồ sơ của hồ sơ vụ án để tiện tra cứu khi ra phiên toà.

Vì là bản án dự thảo nên trong một số phần như phần diễn biến tại phiên toà, phần nhận định, phần quyết định cần để trống để sau khi đã có kết quả thẩm vấn (xét hỏi), tranh luận tại phiên toà, chủ toạ phiên toà viết phần này nhằm đảm bảo khách quan, chính xác và đúng với tinh thần thực hiện cải cách tư pháp, tránh được tình trạng "án bỏ túi".

Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, để thực hiện tốt hơn các chức năng của mỗi ngành, nếu thấy cần thiết, Thẩm phán có thể đề nghị lãnh đạo Toà án tổ chức cuộc họp trao đổi theo đúng tinh thần của Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tuỳ trường hợp cần thiết, có thể mời đại diện cơ quan điều tra tham dự cuộc họp này.

c/ Triệu tập phiên toà

- Căn cứ vào quyết định tổ chức phiên toà lưu động ở địa điểm nào, Thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ đạo thư ký Toà án viết các giấy triệu tập (Địa điểm tổ chức phiên toà đã được nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử).

Việc triệu tập phiên toà cần chú ý đảm bảo trước 10 ngày. Đối với các phiên toà xét xử lưu động cần thiết phải tống đạt các giấy triệu tập trực tiếp, hợp lệ để tránh việc thất lạc và có căn cứ để Toà án xem xét khi quyết định có hoãn xử hay không. Trường hợp vụ án có luật sư (do đương sự mời hoặc do Toà án chỉ định) cũng cần phải thông báo về lịch xét xử lưu động cho Luật sư.

Cần chú ý phối hợp chặt chẽ với Trại tạm giam (trong trường hợp bị can đang bị giam giữ) để có kế hoạch đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo đúng thời gian đã nêu trong lệnh trích xuất và trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thông thường, các Toà án thường có công văn gửi Trại tạm giam để đề nghị phối hợp chặt chẽ trong việc dẫn giải bị can, bị cáo đến phiên toà. Đối với các vụ án trọng điểm, vụ án xét xử lưu động, thông thường lãnh đạo Trại tạm giam thường có kế hoạch dẫn giải, bảo vệ chu đáo trong suốt quá trình Toà án xét xử.

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà (hoặc Văn phòng Toà án nhân dân tỉnh) liên hệ trực tiếp với chính quyền địa phương để bố trí địa điểm (Hội trường xét xử). Một số trường hợp phải tổ chức thiết kế Hội trường xét xử ngoài trời, nơi có khoảng trống lớn.

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà chủ động đề nghị lãnh đạo Toà án tổ chức cuộc họp (có thể kết hợp trong cuộc họp trù bị) để phân công trách nhiệm của Toà án, Viện Kiểm sát, Công an và chính quyền địa phương để đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho phiên toà. Trường hợp là các vụ án lớn, phải tổ chức phiên toà nhiều ngày thì cần thiết phải thành lập Ban tổ chức, phân công người chỉ huy, điều hành để kịp thời xử lý các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà.

Để đề cao tác dụng của phiên toà, Thẩm phán chủ toạ phiên toà (hoặc Văn phòng Toà án nhân dân tỉnh) có thể viết bài mang tính chất thông báo về việc đưa vụ án về xét xử lưu động tại địa phương để địa phương thông báo rộng rãi trước khi Toà án mở phiên toà.

- Chuẩn bị vật chứng của vụ án (nếu có). Trường hợp các vật chứng gọn, nhẹ có thể đem đến phiên toà thì cử cán bộ đem theo và trực tiếp bảo quản. Trường hợp vật chứng quá cồng kềnh, không thể đem đến phiên toà thì có thể công bố các tài liệu về vật chứng, các băng ảnh của vật chứng….

- Chuẩn bị kinh phí cho phiên toà lưu động.

Kinh phí cho phiên toà lưu động, án điểm, Toà án nhân dân tối cao cấp cho Toà án nhân dân cấp tỉnh 20 triệu đồng/một đơn vị/một năm; Toà án cấp huyện là thủ phủ và các quận của năm thành phố trực thuộc Trung ương là 15 triệu/1 đơn vị/1năm; Các Toà án nhân dân cấp huyện còn lại là 12 triệu/1đơn vị/1năm (đây là số liệu của năm 2007).

Thông thường, khoản kinh phí trên được chi cho các hoạt động để tổ chức phiên toà lưu động bao gồm:

- Chi cho Hội đồng xét xử, thư ký Toà án,

- Chi cho công tác bảo vệ an toàn (các lực lượng bảo vệ),

- Chi phí vận chuyển: thuê xe ô tô chở Hội đồng xét xử, vận chuyển các phương tiện phục vụ cho phiên toà: vành móng ngựa, quốc huy, phông chữ, vật chứng v.v…

- Chi phí cho việc trang trí Hội trường xét xử,

- Chi phí cho việc thuê loa đài phục vụ phiên toà,

- Chi phí cho việc tuyên truyền trước, trong và sau phiên toà.

- Chi khác (nước uống, họp triển khai việc tổ chức phiên toà với địa phương…).

Cần lưu ý là: Mặc dù hiện nay các Toà án đều đã được trang bị hệ thống âm thanh của phòng xét xử tại trụ sở Toà án, nhưng nếu tổ chức xét xử lưu động vụ án tại các địa điểm Hội trường rộng hoặc xét xử ngoài trời thì hệ thống âm thanh của Toà án không thể đảm bảo phục vụ tốt phiên toà. Do đó cần thiết phải thuê hệ thống âm thanh tốt, đáp ứng yêu cầu của phiên toà lưu động. Hệ thống âm thanh không đảm bảo sẽ mất đi tác dụng to lớn của việc tuyên truyền, hạn chế lớn đến kết quả của phiên toà.

Kinh phí sử dụng cho việc tổ chức các phiên toà do Toà án nhân dân tối cao đang cấp hiện nay còn nhiều eo hẹp. Với số kinh phí ước tính chi cho một phiên toà lưu động chỉ có khoảng hơn 1 triệu đồng/phiên toà thì không thể đủ. Thực tiễn cho thấy hầu hết các Toà án địa phương đều phải xin hỗ trợ kinh phí từ địa phương mới có thể đảm bảo việc chi tiêu cũng như đảm bảo chỉ tiêu xét xử lưu động của Toà án nhân dân tối cao. Việc hạn hẹp về kinh phí xét xử lưu động cũng là nguyên nhân dẫn tới việc một số Toà án địa phương không tích cực chọn, xác định án điểm, án xử lưu động. Do vậy, muốn tổ chức nhiều phiên toà lưu động cần thiết phải có sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương.

6. Quy định về xét xử tại phiên tòa lưu động:

Thủ tục xét xử tại phiên toà lưu động cũng phải đảm bảo chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không được thêm bớt bất cứ một trình tự nào. Tuy nhiên do là phiên toà xét xử lưu động tại địa phương xảy ra vụ án nên cần chú ý một số vấn đề sau:

6.1. Về trang phục:

Những người tiến hàng tố tụng tại phiên toà cần phải mặc đúng trang phục của ngành. Các thành viên Hội đồng xét xử , thư ký Toà án đều đã được cấp trang phục thống nhất về mầu sắc, kiểu dáng. Kiểm sát viên cũng đã được cấp trang phục riêng của ngành kiểm sát. Do đó tại các phiên toà nói chung và các phiên toà xét xử lưu động nói riêng việc chấp hành mặc đúng trang phục ngành là rất cần thiết, làm tôn nghiêm và làm tăng hơn tính nghiêm túc của phiên toà.

6.2. Việc xét hỏi tại phiên toà

Chủ toạ phiên toà căn cứ vào kế hoạch xét hỏi, dự kiến phân công việc xét hỏi trong Hội đồng xét xử và căn cứ vào diễn biến cụ thể tại phiên toà để điều khiển việc xét hỏi cho đúng trọng tâm của vụ án. Không nên máy móc chỉ căn cứ vào kế hoạch xét hỏi đã chuẩn bị vì kế hoạch xét hỏi cũng chỉ là những dự kiến trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án chứ không phải là diễn biến có thật, khách quan tại phiên toà.

Khi đặt câu hỏi, chủ toạ phiên toà cần chú ý đặt câu hỏi ngắn, gọn, rõ ràng. Không nên vừa là câu hỏi vừa là giải thích pháp luật. Sau khi chủ toạ đã hỏi xong, những vấn đề gì cần hỏi thêm thì các thành viên trong Hội đồng xét xử có thể đặt những câu hỏi tiếp.

Viện kiểm sát (Kiểm sát viên), Luật sư (người bào chữa) có thể đặt các câu hỏi về những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa thẩm vấn (xét hỏi) tại phiên toà. Các vấn đề đó phải là những vấn đề xung quanh nội dung của vụ án. Trường hợp Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Luật sư… đặt lại câu hỏi mà chủ toạ đã hỏi, đã rõ hoặc các vấn đề không liên quan đến vụ án thì chủ toạ phiên toà cần điều khiển cho họ đi đúng vào trọng tâm vụ án.

Việc xét hỏi tại phiên toà phải đảm bảo khách quan, tính dân chủ, tôn trọng quyền tự khai báo, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, danh dự của những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Không được áp đặt suy nghĩ chủ quan của người tiến hành tố tụng trong việc đặt câu hỏi, không được đưa ra những giải thích, những vấn đề mang tính kết luận về tội danh, về hình phạt, về trách nhiệm dân sự của những người tham gia tố tụng tại phiên toà.

Vấn đề quan trọng nhất của việc xét hỏi là phải xác định rõ, tìm ra sự thật khách quan, xác định sự thật khách quan của vụ án thông qua việc kiểm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên toà.

Đối với phiên toà xét xử lưu động, cần hỏi rõ về thủ đoạn phạm tội, việc thực hiện các hành vi phạm tội, nhận thức của bị cáo (các bị cáo) về hành vi phạm tội do mình thực hiện; động cơ, mục đích, điều kiện hoàn cảnh phạm tội. Thông qua việc xét hỏi để tìm ra những sơ hở, những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, phát triển tội phạm để có thể đưa ra kiến nghị, yêu cầu sửa chữa, khắc phục các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm tại cơ quan tổ chức đó.

Vấn đề đặt ra là gianh giới của việc xét hỏi giữa Hội đồng xét xử và Viện Kiểm sát đến đâu? Vấn đề này phải tuân thủ trình tự xét hỏi tại phiên toà.

Cần chú ý đến thủ tục trở lại việc xét hỏi trong quá trình xét xử tại phiên toà .

6.3. Về tranh luận tại phiên toà

Theo tinh thần của cải cách tư pháp thì việc tranh luận tại phiên toà là rất quan trọng trong quá trình xét xử của Toà án. Ở giai đoạn này, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng không đặt câu hỏi để người tham gia tố tụng trả lời. Hội đồng xét xử phải hết sức lắng nghe các ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần, thể chất. Thông qua việc tranh luận của người tiến hành tố tụng (Viện Kiểm sát) với những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử có thể xác định được những chứng cứ, tài liệu nào xác thực, những vấn đề gì chưa được làm rõ để có thể quyết định trở lại việc xét hỏi v.v…

Trong phần luận tội, đại diện Viện Kiểm sát cần lồng ghép việc phổ biến, hướng dẫn các quy định của pháp luật.

Trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên toà được thực hiện theo Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự. Chủ toạ phiên toà cần chú ý điều khiển phiên toà đúng quy định, đặc biệt là thực hiện việc đối đáp theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với phiên toà xét xử lưu động việc tranh luận tại phiên toà cần phải thể hiện rõ tính dân chủ trong xét xử của Toà án nhân dân. Do vậy, chủ toạ phiên toà không nên, không được hạn chế thời gian tranh luận.

6.4. Nghị án và tuyên án

* Nghị án: Việc nghị án phải tuân thủ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự. Nguyên tắc là chỉ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mới có quyền nghị án. Trong quá trình nghị án, các thành viên trong Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề đặt ra của vụ án bằng hình thức biểu quyết theo đa số về từng vấn đề cụ thể.

Các vấn đề chính cần phải nghị án (Buộc phải nghị án) như:

- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà (thông qua việc xét hỏi, tranh luận, xem xét tại chỗ (nếu có), lời nói sau cùng của bị cáo…Hội đồng xét xử phải xác định rõ có hành vi phạm tội xảy ra không? Hành vi đó có cấu thành tội phạm không? đó là tội gì? quy định trong điều nào của Bộ luật hình sự?

Ai là người thực hiện hành vi phạm tội đó? Có đủ căn cứ kết luận họ là người thực hiện hành vi phạm tội không? các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, các tình tiết để xác định trường hợp đặc biệt của tội phạm, điều kiện, hoàn cảnh, động cơ, mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội…

Hội đồng xét xử cân nhắc để quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của tội phạm (tức là xem xét tính nguy hiểm của hành vi phạm tội).

- Xem xét để áp dụng các hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp đối với bị cáo. Lưu ý là các hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp chỉ được áp dụng nếu như điều luật mà bị cáo bị áp dụng có quy định các hình phạt bổ sung hoặc biện pháp tư pháp.

* Tuyên án: Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự thì khi tuyên án, chủ toạ phiên toà yêu cầu mọi người trong phòng xử án phải đứng lên cho đến khi tuyên án xong. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử thì không nhất thiết phải thực hiện máy móc quy định này, đặc biệt là đối với những vụ án quá đông bị cáo, người tham gia tố tụng, bản án quá dài thì thông thường chủ toạ (hoặc thành viên Hội đồng xét xử) đọc xong phần mở đầu bản án, có thể cho phép mọi người ngồi xuống (trừ các bị cáo). Khi tuyên án, chủ toạ phiên toà (hoặc một thành viên của Hội đồng xét xử) phải đọc rõ ràng, rành mạch. Bản án phải đảm bảo đúng hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao. Lập luận trong bản án phải rõ ràng, chặt chẽ, không mâu thuẫn giữa các phần của bản án, đặc biệt là giữa nhận định và quyết định. Các nhận định và quyết định của bản án phải có tính thuyết phục cao trên cơ sở quy định của pháp luật.

Kiến nghị của Toà án về việc sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý có thể đọc tại phiên toà cùng với bản án hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan, tổ chức hữu quan.

Sau khi tuyên án, tuỳ từng trường hợp cụ thể chủ toạ phiên toà hoặc thành viên trong Hội đồng xét xử có thể giải thích cho bị cáo, những người tham gia tố tụng rõ hơn về quyền kháng cáo, quyền xin ân giảm án tử hình (nếu bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hình). Nếu bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ thì Toà án cũng cần giải thích cho bị cáo biết rõ về quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo hoặc khoản 2 Điều 36 Bộ luật hình sự về cải tạo không giam giữ… Đây cũng là việc cần làm nhất là đối với vụ án xét xử lưu động. Việc giải thích cho bị cáo đồng thời cũng là việc giải thích, hướng dẫn, giáo dục pháp luật cho những người tham dự phiên toà.

Trường hợp phải bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà thì chủ toạ phiên toà phải công bố và cho thi hành ngay các quyết định này.

6.5. Một số vấn đề cần giải quyết sau phiên toà

- Tổ chức rút kinh nghiệm công tác xét xử lưu động trong đó cần chú ý đánh giá kết quả của phiên toà cả về nội dung phiên toà, việc tổ chức phiên toà trên cơ sở các nhiệm vụ, trách nhiệm đã được phân công trong kế hoạch tổ chức phiên toà của Ban tổ chức hoặc trong cuộc họp trước khi mở phiên toà.

- Toà án phối hợp với các cơ quan ngôn luận của địa phương để tuyên truyền về kết quả phiên toà (viết bài, đưa tin, thông báo rộng rãi trong nhân dân).

- Báo cáo kết quả phiên toà với Toà án cấp trên.

- Khẩn trương hoàn tất các thủ tục như đánh máy bản án, chuyển giao bản án, sắp xếp hồ sơ để kịp thời thực hiện việc chuyển hồ sơ nếu như có kháng cáo, kháng nghị (7 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị cho Toà án cấp phúc thẩm (Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị).

Th.s Nguyễn Quang Lộc - Thẩm phán TAND tối cao:

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự

>> Xem thêm:  Tư vấn về nghĩa vụ trả tiền vay của công ty thay cho người đã mất ?

7. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử các vụ án hình sự hiện nay

1. Hiệu quả xét xử: Những kết quả nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học có liên quan đến việc xét xử các vụ án hình sự cho thấy hiệu quả xét xử phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả xét xử các vụ án hình sự cũng phải được nghiên cứu trên nhiều phương diện và các lĩnh vực khác nhau.

Bên cạnh các giải pháp về chính trị, hành chính, tư tưởng và giáo dục... thì việc tổ chức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự là một vấn đề rất cấp bách, cần phải có các biện pháp pháp lý. Bởi lẽ, những biện pháp này nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, (không chỉ pháp luật tố tụng hình sự, mà cả những quy định pháp luật khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy tư pháp hình sự); mối quan hệ ngang, dọc và phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan Nhà nước trong toàn bộ hệ thống chính trị, các quy định của pháp luật, có tính chất bảo đảm để các Tòa án nói chung và các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nói riêng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chỉ có thể tiến hành các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật, với một hệ thống pháp luật thống nhất đồng bộ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

2. Giải pháp về tố tụng hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự:

Về thực chất, các biện pháp pháp lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả xét xử, chính là sự điều chỉnh về mặt pháp lý, để thực hiện đồng bộ các quy phạm pháp luật khác, nhằm bảo đảm để tất cả các thành tố tham gia vào hệ thống xét xử (các chủ thể tham gia vào quá trình xét xử và phục vụ xét xử cũng như toàn bộ tổ chức bộ máy, nguyên tắc vận hành, quan hệ dọc, ngang... trong hệ thống Tòa án) đều hướng vào mục đích: Nâng cao hiệu quả xét xử. Nói cách khác, là tất cả các định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, đều phải được bảo đảm điều chỉnh bởi một cơ chế pháp lý hữu hiệu; được bảo đảm thực hiện bởi tổng thể các quy phạm thống nhất mục đích. Đó là các quy phạm trực tiếp điều chỉnh để bảo đảm:

a. Tổ chức hợp lý hệ thống xét xử;

b. Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đúng đội ngũ cán bộ tư pháp - xét xử nói chung, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nói riêng.

c. Không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tố tụng, tư pháp; khắc phục những quy định chồng chéo, những quy định trái với những nguyên tắc chung;

d. Bảo đảm đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết phục vụ cho các hoạt động xét xử;

e. Không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, nghiệp vụ xét xử và tinh thần tự tôn nghề nghiệp, phụng sự pháp luật của đội ngũ Thẩm phán.

Có thể nói rằng: Toàn bộ những biện pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, đều là biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả xét xử. Tuy nhiên, những biện pháp nêu trên chính là những biện pháp trực tiếp nhất, tác động trực tiếp đến khâu xét xử. Đồng thời, điều chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, thì không chỉ có các quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự, mà còn các quy phạm pháp luật khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, quản lý... Nhưng trong các quy phạm pháp luật thì pháp luật tố tụng hình sự luôn đóng vai trò quyết định, bởi nó cũng bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật khác, được xác lập nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động tố tụng, trong đó có hiệu quả hoạt động xét xử.

Vì thế, các giải pháp mang tính chất lập pháp về tố tụng hình sự có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự, cần được định hướng vào các mục tiêu cụ thể.

3. Cần giải quyết tốt vấn đề tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và hội thẩm nhân dân đồng thời, hoàn thiện các quy định về quyền năng tố tụng của các chủ thể này.

Nâng cao chất lượng Thẩm phán cho Tòa án các cấp là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay. Để làm tốt vấn đề này thì cần phải thực hiện các giải pháp:

Nhanh chóng hoàn thiện các quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; các quy định về quyền hạn của các cấp xét xử;

Cần thiết phải quy định chặt chẽ chế độ, tiêu chuẩn đào tạo, tuyển dụng.

Quy định và tổ chức thực hiện tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân.

Quy định chặt chẽ tiêu chuẩn và thực hiện nghiêm túc khoa học công tác bổ nhiệm Thẩm phán và lãnh đạo các cơ quan Tòa án các cấp.

Phân công nhiệm vụ hợp lý, phù hợp với trình độ và năng lực chuyên môn, tăng cường công tác kiểm tra, tạo điều kiện cần thiết để các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cần mạnh dạn áp dụng các quy định về tổ chức thi sát hạch thường xuyên đối với đội ngũ Thẩm phán. Đối với các Thẩm phán năng lực còn yếu không đạt yêu cầu qua sát hạch, cần có kế hoạch đào tạo lại, phân công nhiệm vụ khác phù hợp hơn hoặc xử lý kiên quyết trong các kỳ xem xét tái bổ nhiệm.

Các giải pháp về tổ chức nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự là những biện pháp nhằm kiện toàn, đổi mới quy mô, đổi mới cơ chế quản lý, chế độ quan hệ công tác; tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, nhằm xây dựng trên phạm vi cả nước một hệ thống các Tòa án có cơ cấu tổ chức và biên chế hoạt động có hiệu quả, phù hợp điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là biện pháp quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay, khi mà cơ cấu tổ chức của các Tòa án còn nhiều bất cập.

Tổ chức lại các Tòa án các cấp, nhất là ở cấp huyện và cấp tỉnh, kiện toàn biên chế Thẩm phán và phân công nhiệm vụ theo hướng chuyên môn hóa, cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong giai đoạn hiện nay, là một giải pháp cần sớm được tiến hành để nâng cao hiệu quả xét xử.

Tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS, liên quan đến quyền năng tố tụng và mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với các chức danh tư pháp khác, nhằm một mặt bảo đảm tối đa điều kiện thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân;

4. Về thủ tục trình tự giải quyết các vụ án hình sự:

Cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện nhằm quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự thực hiện các thủ tục tố tụng của phiên tòa, bảo đảm tính tranh tụng tại phiên tòa và nâng cao hơn tính khách quan, toàn diện của hoạt động xét xử.

Về cơ bản thủ tục phiên tòa sơ thẩm được quy định trong BLTTHS 2015 đã được bổ sung hoàn thiện hơn so với trước đây.

Việc thực hiện một trình tự tố tụng hợp lý các thủ tục, có tác dụng tăng cường tính khách quan, toàn diện và tạo ra tâm lý xét xử tốt hơn. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi các quy định đã không còn phù hợp trong thực tiễn, ít có ý nghĩa trong việc góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử. Ví dụ: Việc yêu cầu người làm chứng bắt buộc có mặt đúng lúc tại phiên tòa sẽ không làm cho sự có mặt của ai đó trong số những người tại tòa tác động đến tâm lý khai báo của người làm chứng; hoặc việc thông báo về những người có mặt tại tòa đúng thời điểm, mới có thể phát hiện những người vắng mặt và làm cho việc giải thích quyền lợi, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án.v...v...

Về trình tự xét xử phúc thẩm hình sự, các quy định của BLTTHS hiện nay, vẫn chưa thực sự tạo điều kiện thực hiện tranh tụng tại phiên tòa. Thủ tục xét xử phúc thẩm vẫn còn những điểm cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện.

Tuy nhiên, việc quy định như trên còn rất chung chung, cần phải xác định rõ các quy định cụ thể nào về thủ tục phiên tòa bắt buộc phải áp dụng khi xét xử phúc thẩm, bởi có những nội dung công việc chỉ có ở phiên tòa sơ thẩm, mà không có ở phiên tòa phúc thẩm. Về mặt khoa học pháp lý, các thủ tục tố tụng xét xử cũng chỉ quy định tại Phần thứ ba "xét xử sơ thẩm" trong BLTTHS, mà không quy định ở Phần thứ tư "xét xử phúc thẩm". Cho nên, việc tuân thủ trình tự thủ tục xét xử phúc thẩm, về cơ bản cũng chỉ là vận dụng trên cơ sở các quy trình đã có về thủ tục xét xử sơ thẩm, đó là điều bất hợp lý khi tổ chức phiên tòa phúc thẩm, dễ dẫn đến các thiếu sót về thủ tục hoặc tạo ra những tuỳ tiện cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phúc thẩm. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm.

5. Tiếp tục hoàn thiện tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta thực hiện việc xét xử hai cấp. Thực tế là, có hai Toà án thực hiện việc xét xử phúc thẩm. Đó là các Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC (kể cả Tòa án Quân sự Trung ương).

Phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại các vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật. Mục đích của phúc thẩm là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án quyết định sơ thẩm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước bị xâm hại. Tổ chức của các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC hiện đang có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu đổi mới. Hiện nay ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều đang có một Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC có trụ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Mỗi Tòa Phúc thẩm đảm nhận một địa bàn xét xử phúc thẩm trên phạm vi lớn, thậm chí đến gần 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì nhiều lý do khác nhau, mỗi đợt xét xử phúc thẩm tại các địa phương thường kéo dài trong nhiều ngày, nhiều trường hợp phải hoãn phiên tòa, mất thời gian, công sức trong việc đi lại và tổ chức các phiên tòa lưu động, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn đọng án phúc thẩm ở Tòa Phúc thẩm TANDTC trong thời gian qua. Vì thế, chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng, các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC và Viện Phúc thẩm khu vực thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần được tổ chức lại. Để giải quyết kịp thời các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị, mỗi Tòa Phúc thẩm cần có thẩm quyền phúc thẩm trong phạm vi 5 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Để khắc phục những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn phúc thẩm và nâng cao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau, tuy nhiên, từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS hiện hành theo các hướng xác định đúng tính chất của phúc thẩm và đối tượng của xét xử phúc thẩm; mở rộng quyền hạn của Tòa Phúc thẩm, theo hướng xác định lại tính chất và đối tượng của phúc thẩm trong tố tụng hình sự, bổ sung, sửa đổi các quy định về quyền hạn của các cấp xét xử; ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định BLTTHS sửa đổi về xét xử phúc thẩm.

Đồng thời, cần bổ sung quy định về căn cứ để sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm. Có thể đồng ý với quan điểm cho rằng: Căn cứ để sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm là những vi phạm pháp luật nghiêm trọng chứng minh về tình trạng không hợp pháp hoặc thiếu căn cứ của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm phải sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Việc điều tra hoặc xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ.

b) Kết luận của bản án không phù hợp với các tình tiết thực tế về vụ án;

c) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

d) Áp dụng không đúng pháp luật hình sự, dân sự;

e) Hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân người bị kết án.

Đặc biệt, đối với trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm hiện nay, các quy định về chức năng, quyền hạn của cấp giám đốc thẩm và tái thẩm chưa đủ hiệu lực để khắc phục sớm, kịp thời và dứt điểm các sai phạm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm. Tồn tại đó làm cho vụ án bị kéo dài không cần thiết mà không quy được trách nhiệm cho các cấp xét xử.

6. Bảo đảm tuân thủ triệt để các nguyên tắc của tố tụng hình sự :

Là một hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử. Đây cũng là vấn đề khó khăn trong thực tiễn, vì nếu như các hành vi cụ thể hầu như đã được quy định chi tiết thì những nguyên tắc của tố tụng hình sự (những tư tưởng chỉ đạo) là vấn đề được thẩm thấu trong nhiều quy phạm, nhiều chế định khác nhau và đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nhất quán. Việc không tuân thủ các nguyên tắc, rất khó phát hiện, khó chỉ ra cụ thể và cũng khó đi đến những phán xét chính xác. Chính vì vậy, khi Thẩm phán xét xử không tuân thủ triệt để những nguyên tắc của tố tụng hình sự, thì mặc dù họ chọn đúng các quy phạm pháp luật cần áp dụng, nhưng rất có thể, tinh thần pháp chế để bảo đảm công lý, công bằng xã hội vẫn chưa đạt được trong các quyết định đưa ra. Ví dụ: Khi áp dụng một điều luật cụ thể trong một giới hạn khung hình phạt cho phép, tùy vào tình hình thực tế, cũng như quán triệt những nguyên tắc của pháp luật về tố tụng hình sự mà, trong khi xét xử, những người tiến hành xét xử có thể đưa ra những phương án khác nhau, chọn mức án cụ thể khác nhau trong khung đó. Đặc biệt có nhiều trường hợp, do chưa năm chắc những nguyên tắc tố tụng hình sự dẫn đến việc vận dụng, khai thác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có thể theo những xu hướng khác nhau. Đơn cử một hành vi quản lý kinh tế nằm ở ranh giới của sự điều chỉnh pháp luật, có thể được Thẩm phán này coi là năng động dẫn đến tư duy đánh giá tích cực, là cơ sở của niềm tin nội tâm về sự tồn tại nhân tố tích cực trong nhân thân của bị cáo và cần áp dụng một mức hình phạt nhẹ. Ngược lại, cũng hành vi đó, có thể được Thẩm phán khác phân tích theo chiều hướng là sự vi phạm nguyên tắc trong điều kiện cần phải tăng cường đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, tạo nên niềm tin về sự cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, dẫn đến một phán quyết hoàn toàn trái ngược với người Thẩm phán. Chính vì thế, để bảo đảm pháp chế, bảo đảm công lý, người xét xử phải vừa nắm vững các quy phạm pháp luật, lại phải thấm nhuần các nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo... để tránh tâm trạng cực đoan của bản thân tại thời điểm đó.

Nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tăng cường việc giám sát thực thi pháp luật. Đặc biệt với sự thành lập mới của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội khóa XII, việc triển khai ngày càng được sâu, rộng trong những hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với việc thực thi pháp luật, trong lĩnh vực tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động và mối quan hệ giữa các thiết chế, các cơ quan trong lĩnh vực này, đang đòi hỏi phải được tổng kết đánh giá và điều chỉnh pháp luật kịp thời, khắc phục những khó khăn vướng mắc ảnh hưởng đến quá trình giải quyết đúng đắn, khách quan các vụ án hình sự. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là rất cần thiết. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý về tư pháp hình sự, cần phải xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, nội dung giám sát, sao cho hoạt động đó không những không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện bình thường các chức năng của các cơ quan tư pháp, mà còn là sự hỗ trợ đắc lực cho việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan.

T.s Hoàng Mạnh Hùng

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự qua Email [email protected] hoặc tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng

Bộ phận tư vấn pháp luật!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc đòi lại tiền khi nhờ làm thủ tục xuất khẩu lao động ?