Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015

1. Tạm giữ, tạm giam là gì?

Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, do cơ quan, người tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bắt quả tang, truy nã, khẩn cấp và đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, hoặc trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác định sự thật của vụ án, hoặc để bảo đảm thi hành án.

Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và các biện pháp bảo đảm được quy định trong Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2016.

2. Nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam

Luật quy định việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam phải thực hiện đúng các nguyên tắc sau đây:

- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

- Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về tạm giữ, tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyền;

- Bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

- Bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và luật có liên quan; áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo đúng quy định của pháp luật và điềư ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Luật Ihi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định các hành vi bị nghiêm cấm gồm:

- Nghiêm cấm việc tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

- Không chấp hành lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền về tạm giữ, tạm giam, trả tự do;

- Giam giữ người trái pháp luật;

- Cản trở người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền thăm gặp thân nhân, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ khác của công dần.

Để bảo đảm không xảy ra vi phạm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong quản lý việc tạm giữ, tạm giam.

3. Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền như:

- Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm;

- Được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam, giữ;

- Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật Trưng cẩu ý dần;

- Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thân, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

- Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự; được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

- Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự; được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam; được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật; được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi các luật (trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam).

4. Quy định về quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Luật quy định người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bố trí theo khu và phân loại nhằm tránh các hiện tượng vi phạm và để bảo đảm an toàn cho người bị giam, giữ. Việc bố trí phân khu và phân loại tiến hành theo đối tượng:

- Người bị tạm giữ;

- Người bị tạm giam;

- Người dưới 18 tuổi;

 - Phụ nữ;

- Người nước ngoài;

- Người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;

- Người thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ;

- Giết người;

- Cướp tài sản thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Người bị kết án tử hình;

- Người đang chờ chấp hành án phạt tù;

- Người thường xuyên vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ;

- Người có dấu hiệu mắc bệnh tầm thần.

Ngoài ra, người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người đồng tính, người chuyển giới; người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A; người bị kết án tử hình; người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần; phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng có thể được bố trí giam giữ ở buồng riêng.

5. Chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam

Về chế độ chung đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam:

+ Về chế độ ăn, ở và sinh hoạt: Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau, thịt, cá, đường, muối, nước chấm, bột ngọt, chất đốt, điện, nước sinh hoạt; được bảo đảm an toàn thực phẩm trong ăn, uống. Cơ sở giam giữ tổ chức bếp ăn và được cấp các dụng cụ cần thiết cho việc bảo quản lương thực, thực phẩm, nẫu ăn, nước uống và chia đồ ăn theo khẩu phần tiêu chuẩn. Về chỗ ở, chỗ nằm tối thiểu của mỗi người bị tạm giữ, người bị tạm giam là 02 m2, được bố trí sàn nằm và có chiếu.

Người bị tạm giữ được nhận quà của thân nhân gửi trong thời gian bị tạm giữ không quá một lần; nếu gia hạn tạm giữ thì mỗi lần gia hạn tạm giữ được nhận quà một lần. Người bị tạm giam được nhận quà của thân nhân gửi đến không quá ba lần trong một tháng.

Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng quần áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân; nếu thiếu thì cơ sở giam giữ cho mượn.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được gửi hoặc nhận thư, sách, báo và tài liệu khi được cơ quan đang thụ lý vụ án cho phép. Thư, sách, báo và tài liệu phải để mở và chịu sự kiểm tra, kiểm duyệt của cơ sở giam giữ.

+ Về chế độ chăm sóc y tế: Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, được bảo đảm chế độ chăm sóc y tế. Trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam, Nhà nước có trách nhiệm chăm sóc y tế cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam khi họ bị ốm đau; được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam có dấu hiệu mắc bệnh tâm thân hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ sở giam giữ yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án trưng cầu giám định pháp y tâm thân.

+ Về chế độ sinh hoạt tinh thần: Cơ sở giam giữ được trang bị hệ thống truyền thanh. Trung bình hai mươi người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ sở giam giữ có dưới hai mươi
người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì được cấp một tờ báo địa phương hoặc báo trung ương. Thủ trưởng cơ sở giam giữ tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam nghe đài phát thanh, đọc báo. Nếu có điều kiện thì tổ chức cho họ xem chương trình truyền hình địa phương và trung ương.

Chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi mang tính nhân đạo sâu sắc, nhằm bảo đảm sức khỏe của người mẹ và bảo đảm sự phát triển bình thường của thai nhi, trẻ em và người dưới 18 tuổi. Theo đó, người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã đủ 18 tuổi và được tăng thêm về thịt, cá. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được bố trí giam giữ riêng; được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự với số lần thăm gặp được tăng gấp đôi so với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người đủ 18 tuổi trở lên.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe; nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh. Người bị tạm giữ,
người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2.

Cơ sở giam giữ phải tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi.

Chế độ đối với người bị kết án tử hình đang bị tạm giam: Người bị kết án tử hình đang bị tạm giam được hưởng chế độ ăn, mặc, sinh hoạt, chăm sóc y tế, nhận quà, gửi, nhận thư, sách, báo, tài liệu như người bị tạm giam khác, được thăm gặp. Cơ sở giam giữ phải bảo đảm cho người bị kết án tử hình thực hiện quyền kháng cáo, quyền đê' nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, quyền xin ân giảm án tử hình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quyền khác của người bị tạm giam. Trại tạm giam phải tổ chức buồng riêng hoặc khu riêng để giam giữ người bị kết án tử hình.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Khi có căn cứ, quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật; kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam; đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật; khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định.

Luật quy định người bị tạm giữ, người bị tạm giam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; người bị tạm giữ, người bị tạm giam và mọi người có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê