Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

Kính thưa luật sư Minh Khuê tôi hiện tại tôi đang là sinh viên và đang chuẩn bị ra trường vào năm 2021. Tôi đang co dự định thI tuyển vào công chức và mong muốn trở thành đại biểu Quốc hội nhưng hiện tại tôi đang rất băn khoan về việc mình là phụ nữ. Trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ này lại tăng giảm không ổn định, xét từ khóa I thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội không theo chiều hướng tăng dần đều. Rõ ràng, công tác thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được kết quả cao nhưng tôi vẫn muốn hiểu rõ hơn về vấn đề bình đẳng giới trong cơ quan nhà nước. Mong luật sư giải đáp thắc mắc.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Bất cập trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ, công chức nữ 

Theo thống kê của Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt nam trong mỗi khóa như sau:

Khóa

Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội

Nhiệm kỳ

I

2,5%

1946-1960

II

13,5%

1960-1964

III

16,7%

1964-1971

IV

29,7%

1971-1975

V

32%

6/1975-6/ 1976

VI

26,8%

1976-1981

VII

21,77%

6/1981-6/1987

VIII

18%

6/1987-6/1992

IX

18,84%

1992-1997

X

26,2%

7/1997-5/2002

XI

27,3%

2002/2007

XII

25,8%

2007-2011

XIII

24,4%

2011-2016

XIV

26,6%

2016-202

  Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quốc hội

Dựa trên số liệu trên có thể thấy tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam đã đạt mức tăng cao sau khi dành độc lập, khai sinh đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ này lại tăng giảm không ổn định, xét từ khóa I thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội không theo chiều hướng tăng dần đều. Rõ ràng, công tác thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được kết quả cao. Trong bầu cử Quốc hội khóa XIV, theo chỉ tiêu của Quốc hội tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội dự kiến là 150 người (chiếm 30% tổng số đại biểu Quốc hội) Tuy nhiên thực tế tỷ lệ này chỉ đạt 26,6%. Như vậy, sự thiết thực từ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới vẫn gặp trở ngại từ tư tưởng người dân về phân biệt bình đẳng giới.

Về phương diện quy định của pháp luật, số lượng phụ nữ được ứng cử đại biểu Quốc hội bảo đảm ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội ( Theo quy định tại khoản 3 điều 8 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân). Trong danh sánh ứng cử Quốc hội tỷ lệ phụ nữ tham gia ứng cử vẫn duy trì ở mức pháp luật cho phép, dao động trên 35 % không quá cao. Như vậy, số lượng phụ nữ tham gia vào ứng cử đại biểu Quốc hội chưa đảm bảo về bình đẳng hoàn toàn  cả về số lượng so với nam giới, chỉ đáp ứng tiêu chuẩn của pháp luật. Trong bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thuật ngữ định kiến giới vẫn còn được ứng dụng nhiều. Đặc biệt là ở các vùng miền trình độ dân trí thấp, vùng cao, biên giới, những địa phương còn nặng tư tưởng phong tục, tập quán lỗi thời, lạc hậu. Kết quả bỏ phiếu bị chi phối bởi giới tính người ứng cử. Ngay trong tư duy của cử tri, lựa chọn đại biểu có đủ trình độ, tài đức bầu vào Quốc hội và hội đồng nhân dân cũng cầ phải có điều kiện về giới tính, các tiêu chuẩn còn lại cũng chỉ là “tiêu chuẩn mềm” nếu chưa đáp ứng được “tiêu chuẩn cứng” này.

Suy nghĩ không tích cực về khả năng cống hiến của nữ giới cũng là một thực tế đang diễn ra. Đa số các đại biểu cơ quan quyền lực là nam, đa số các chức danh quản lý trong cơ quan nhà nước không thuộc về nữ. Nữ giới gắn liền với công việc gia đình- nền kinh tế phi tiền tệ và chức năng tái sản suất. Các tư tưởng lớn, cống hiến lớn phù hợp với nam giới vì nam giới không vướng mắc nhiều vào công việc gia đình, nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Mặt khác, nam giới thường được đề cao vai trò trong công tác quản lý, nam giới là lãnh đạo đó là quyền lực, nữ giới làm xếp thì là biểu hiện thấp cấp cho công chức, viên chức nam ở công sở, là biểu hiện cho “ tập quyền” trong gia đình về địa vị người phụ nữ. Suy nghĩ còn tồn đọng trong xã hội như vậy có ở rất nhiều nơi, ngay cả trong cơ quan nhà nước, thành thị….

 Thực tế cho thấy, trong các lần bầu cử Hội đồng nhân dân có những địa phương số phiếu bầu cho phụ nữ rất thấp, trong công tác bổ nhiệm cán bộ, cán bộ nữ khó có được vị trí phù hợp với năng lực của mình. Những thực trạng này có ở nhiều địa phương và đa số các trường hợp đều không có con đường giải quyết. Ngoài ra, thực trạng về bất bình đẳng giới còn trở thành một quy luật bất thành văn trong cả suy nghĩ của người dân cũng như kết quả sau bầu cử, bổ nhiệm. Trước và sau bầu cử, thực tế vẫn duy trì qua các khóa của quốc hội, Hội đồng nhân dân mặc dù tình hình đã được cải thiện dần qua thời gian nhờ các chính sách của nhà nước.

 2. Nguyên nhân của các thực trạng bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị 

Xét về nguyên nhân, có thể có thể thấy một số nguyên nhân chung của tất cả các lĩnh vực trong bình đẳng giới trong đó có cả lĩnh vực chính trị như:

Nhận thức về bình đẳng giới ở các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn như nông thôn, miền núi, những vùng dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp còn chịu nhiều tư tưởng phong kiến lạc hậu.

Các định kiến giới còn tồn tại ….

Đồng thời còn có nhiều nguyên nhân trong lĩnh vực chính trị , được nhắc đến trong nghị quyết số 11-NQ/TW như:

Nhận thức của các cấp Đảng, chính quyền ở địa phương, đơn vị về bình đẳng giới về vai trò, năng lực của người phụ nữ còn hạn chế. Định kiến về giới còn tồn tại dai dảng trong nhận thức chung của xã hội do tư tưởng Nho giáo và phong tục phong kiến lạc hậu lâu đời.

Nhiều cấp ủy đảng, chính quyền thiếu quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương của Đảng về công tác vận động phụ nữ, chưa củ động nghiên cứu, dự báo và giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội phát sinh liên quan tới phụ nữ. Chủ trương công tác phụ nữ chưa được quán triệt, thực hiện đầy đủ trong tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng , bố trí sử dụng, đề bạt cán bộ, có điều kiện “ khoán trắng” công tác phụ nữ cho hội phụ nữ.

Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ, cán bộ nữ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ. Chính sách chăm lo, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, xây dựng gia đình còn nhiều bất cập.

Hoạt động của các cấp hội liên hiệp phụ nữ chưa giải quyết tốt một số vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là những vấn đề xã hội bức xúc lien quan tới phụ nữ, việc tham mưu, đề xuất tới Đảng và Nhà nước trong thời kỳ còn rất hạn chế. Một bộ phận phụ nữ còn tự ti, an phận, chưa chủ động vượt khó vươn lên. Trong nội bộ phụ nữ còn tình trạng níu kéo, chưa ủng hộ nhau”

3. Đảng đã có quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp gì về công tác khắc phục tình trạng bình đẳng giới

Nghị quyết số 11-NQ/TW đã nêu rõ các phần quan điểm mục tiêu, giải pháp và tôt chức thực hiện, sau đay bài viết xin được tóm tắt khái quát nội dung:

Quan điểm:

Phát huy vai trò, tiềm năng phụ nữ, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong tất cả lĩnh vực

Công tác phụ nữ sát đối tượng, vùng, miền, phát huy tinh thần, khả năng của các tầng lớp phụ nữ, chăm lo cho sự tiến bộ, quyền lợi ích phụ nữ

Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ tương ứng với vai trò

Công tác phụ nữ là trách nhiệm cả hệ thống chính trị, toàn xã hội, từng gia đình mà hạt nhân là các cấp ủy đảng, nòng cốt là hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nang cao trình độ về mọi mặt, có học vấn, trình độ đáp ứng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cải thiện đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, bình đẳng mọi lĩnh vực, đóng góp lớn cho xã hội, gia đình. Phấn đấu đưa nước ta thành một trong số các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực.

Nhiệm vụ, giải pháp:

Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới

Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống pháp luật, chính sách bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ

Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức,  kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có long nhân hậu.

Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ.

4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động như thế nào

Quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động là gì

Lao động là lĩnh vực quan trọng của xã hội. Để đảm bảo phát triển lao động thúc đẩy nề kinh tế đi lên, pháp luật đã ưu tiên chú trọng đến lao động nữ, đây cũng là thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.

Theo khoản 3 điều 13, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao dộng bao gồm:

Quy định tỷ lệ nam nữ được tuyển dụng lao động.

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ.

Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động nữ làm việc trong một số ngành nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Ngoài các quy định trong Luật Bình đẳng giới, Bộ luật lao động  2019còn quy định cụ thể hơn về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, tạo điều kiện cho lao động nữ có cơ hội phát triển. Bộ luật lao động 2019 dành hẳn một chương “Những quy định riêng đối với lao động nữ và đảm bảo bình đẳng giới” để quy định các ưu tiên dành cho người lao động là nữ giới. Trong bộ luật này bình đẳng giới được thông qua quy định từ điều 135 đến điều 142.

Đối với người sử dụng lao động pháp luật có quy định rõ rang về vấn đề bình đẳng giới:

Điều 136. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

1. Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

2. Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ.

3. Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc.

4. Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động.

Bên cạnh đó pháp luật cũng dành ưu tiên cho thiên chức sinh con của người phụ nữ. Nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người phụ nữ sinh con và cho con bú Bộ luật lao động 2019 đã bảo vệ chặt chẽ lợi ích phụ nữ thai sản trước trong và sau sinh

Điều 137. Bảo vệ thai sản

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.

2. Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.

4. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Điều 138. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

1. Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

2. Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Điều 139. Nghỉ thai sản

1. Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

3. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.

4. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

5. Lao động nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Điều 140. Bảo đảm việc làm cho lao động nghỉ thai sản

Lao động được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại các khoản 1, 3 và 5 Điều 139 của Bộ luật này mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.

Điều 141. Trợ cấp trong thời gian chăm sóc con ốm đau, thai sản và thực hiện các biện pháp tránh thai

Thời gian nghỉ việc khi chăm sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, triệt sản, người lao động được hưởng trợ cấp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

 5. Thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động hiện nay như thế nào

Pháp luật quy định về bình đẳng giới rất rõ ràng đầy đủ. Nhưng đúng theo thực tế hiện nay, quá trình này diễn ra trong xã hội chưa đáp ứng được mục tiêu, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Tại khoản 3 điều 8 Bộ luật lao động 2019 các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm có: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của xã hội thì đòng thời cũng là sự phát triển của các hành vi vi phạm pháp luật đang có chiều hướng gia tăng. Các vụ xử lý vi phạm như tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị về hành vi quấy rối nữ đồng nghiệp của một chuyên viên phòng Tài chính-Kế hoạch huyện là một trường hợp, mặc dù đây là vi phạm hành chính về hành vi quấy rối tình dục. Thực tế, vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động là hành vi có trong khoản 3 điều 40 Luật Bình đẳng giới. Bất kỳ hành vi nào vi phạm khoản 3 điều 40 đều được coi là vi phạm pháp luật. Đồng thời, trong xã hội hiện nay đang còn nhiều bất bình đẳng về công việc lao động chân tay của người phụ nữ. Tại các công xưởng, nhà máy hoặc xưởng thủ công hầu hết người sử dụng lao động không muốn sử dụng lao động là nữ cho các công việc lao động chân tay nặng nhọc. Mặc dù trên phương diện pháp luật nam nữ phải bình quyền, người phụ nữ có toàn quyền quyết định công việc của họ. Song trong thị trường sức lao động với bản chất là người lao động phải bị phụ thuộc nhiều vào người lao động thì cơ hội kiếm công ăn việc làm cho người phụ nữ nhất là những người nghèo khó, cuộc sống còn nhiều khó khăn buộc phải làm lụng vất vả chưa được đáp ứng. Cùng với thị trường lao động đi lên, nhu cầu được hưởng tiền thưởng, đãi ngộ, đầu tư chăm sóc vào người lao động cũng ra tăng. Nhưng trong các công việc lao động nặng nhọc, người phụ nữ khó có cơ hội được hưởng sự đầu tư chăm sóc cũng như đãi ngộ của chủ lao động so với nam giới. Trong tâm lý‎ của chủ lao động, thuê người làm công việc lao động chân tay nặng nhọc, nam giới thì có sức vóc làm được nhiều việc, ngược lại nữ giưới bị ảnh hưởng bởi vóc giáng dẫn đến lợi nhuận giảm đi. Nếu đầu tư hao phí sức lao động cho nam giới, đãi ngộ một khoản tiền nhất định tương lai sẽ sinh lời nhiều còn với nữ giới đầu tư hao phí sức lao động cho nữ giới, cùng đãi ngộ một khoản tiền như nhau nhưng sinh lời từ sức lực người phụ nữ sẽ không cao.

Đây cũng là vấn đề đáng nói trong thị trường sức lao động. Trong khi các bên thị trường chịu sự chi phối của quy luật thị trường, kinh doanh nhằm vào lợi nhuận là chính, từ đó dẫn tới có những quyết định bất bình đẳng giới với người lao động nữ. Còn về phía Nhà nước, về cơ bản không thể thay đổi được quy luật thị trường nên cũng chỉ điều chỉnh được thông qua văn bản pháp luật chứ chưa đi sâu vào gốc rễ của mối bất bình đẳng này. Xã hội phát triển, nhưng song song với việc đó thì tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn. Một trường hợp nữa được quan tâm chẳng hạn như trong lĩnh vực ngân hàng, thông thường các nữ nhân viên ngân hàng có thu nhập rất cao và cuộc sống ổn định. Tuy nhiên, khi các chị bước vào thời kỳ thai kỳ thì ngân hàng đó lại không nhận việc làm nữa. Có thể thấy đây là một nghề rất đặc thù trong xã hội, vì các lý do khác nhau mà đây là quy định bắt buộc của ngành ngân hàng. Nhìn vào đó, ta có thể thấy tính bất bình đẳng giới trong khi người lao động nữ không được đáp ứng các quy định cơ bản của pháp luật.

Tựu chung lại trong nhiều trường hợp khác nhau, nhiều tình huống khác nhau mà người lao động nữ bị đối xử bất bình đẳng, xuất phát từ sức lao động của nữ giới có sự chênh lệch so với nam giới. Hiện trạng này vẫn còn tồn tại nếu cơ chế thi hành luật của chúng ta chưa thực sự có hiệu quả.

6. Giải pháp cho tình hình bất bình đẳng giới hiện nay

Để giải quyết tất cả các tình hình còn tồn đọng của tư tưởng lạc hậu, điều kiện hoàn cảnh khách quan chưa cho phép công cuộc bình đẳng giới được hoàn thiện, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Thực hiện có hiệu quả các văn bản pháp luật về bình đẳng giới nhất là nghị quyết số 11-NQ/TW, Luật Bình đẳng giới 2006, nghị định số 55/2009/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, Công ước CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.... Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, nâng cao cơ chế thi hành các luật về bình đẳng giới.

Tiếp tục tham gia các công ước, điều ước quốc tế về bình đẳng giới, kêu gọi sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ, các nhà nữ quyền về bình đẳng giới, tích cực học hỏi kinh nghiệm chống bất bình đẳng giới từ nước ngoài nhất là các nước đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số bình đẳng giới GDI. Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ nước ngoài và bạn bè quốc tế

Nâng cao công tác tư tưởng, từng bước xóa bỏ các định kiến giới, giúp người dân tiếp xúc và bắt nhịp dần với lối sống văn minh tư tử tiến bộ. Theo đó phổ biến kiến thức bình đẳng giới qua khai dân trí bằng nhiều con đường, biện pháp khác nhau.

Đẩy nhanh phát triển đất nước toàn diện, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước kéo theo thay đổi cả trong nhận thức lẫn hành động của người dân khi sống trong môi trường tích cực. Xây dựng xã hội phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển cao kéo theo xóa bỏ bất bình đẳng giới.

Các giải pháp còn lại có trong nghị quyết số 11-NQ/TW.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê