Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy phân tích giúp tôi về kinh nghiệm của quốc gia Philipin (quốc gia đang phát triển) trong lĩnh vực pháp luật và cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Mở đầu vấn đề
Về pháp luật trong nước, đối với nhiều quốc gia, pháp luật đầu tư là công cụ chính sách cốt lõi để thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động đầu tư. Pháp luật đầu tư trong nước cùng với các điều ước quốc tế về đầu tư tạo thành khung pháp lý cơ bản cho đầu tư nước ngoài ở nhiều nước. Các quy định trong pháp luật đầu tư các nước thường có nội dung giống với các điều khoản trong các điều ước quốc tế về đầu tư. Theo nghiên cứu của UNCTAD, trên thế giới có ít nhất 108 quốc gia có một bộ luật về đầu tư (theo Investment Laws A Widespread Tool for the Promotion and Regulation of Foreign Investment, Special Issue, 2016, p. 2. Nghiên cứu này không thống kê những quy định pháp luật chuyên ngành như đất đai, ưu đãi, lĩnh vực cụ thể...).
Một luật (bộ luật) về đầu tư không phải là công cụ pháp lý duy nhất điều chỉnh đầu tư nước ngoài mà còn có các luật chuyên ngành khác như các luật về thuế, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ môi trường, hoặc Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, thống kê này chỉ xem xét khung pháp lý ghi nhận các quy định chung về đầu tư. Hầu hết các nước có Luật Đầu tư chung đều là nưóc đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi. Một số nước như Trung Quốc và Udơbêkixtan có hai đến ba Luật Đầu tư.
Chỉ có hai nước phát triển là Aixơlen và Lítva có luật chung vể đầu tư, mặc dù một vài nước phát triển khác cũng có luật quy định một số khía cạnh cụ thể về đầu tư như Ôxtrâylia, Canada, Nhật Bản và Niu Dilân.
Trong số các nước có luật chung về đầu tư, 58% các luật này áp dụng cho cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, bao gồm hầu hết các nước ở châu Phi, số còn lại, gồm nhiều nước ở châu Á, chỉ điều chỉnh nhà đầu tư nước ngoài. Đại đa số các Luật Đầu tư đang có hiệu lực được ban hành sau năm 1989. Đặc biệt là trong giai đoạn những năm 1990, tức là giai đoạn ngay sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, nhiều nước thông qua Luật Đầu tư mới.
Về cam kết quốc tế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chính sách ký kết điều ước quốc tế về đầu tư, thể hiện thiện chí và chính sách mở cửa đối với vốn và nguồn lực từ các nước khác. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các cam kết quốc tế về bảo hộ đầu tư được thỏa thuận trong giai đoạn đầu cho thấy nhiều bất cập, cần điều chỉnh về nội dung cụ thể. Phần tiếp theo xem xét pháp luật và cam kết quốc tế của một số nước đang phát triển trong đó có hai nước ASEAN và hai nền kinh tế lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, cho thấy sự điều chỉnh chính sách, nội dung điều ước của các nước này.
Dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về quốc gia Philippin – kinh nghiệm của đất nước này đối với lĩnh vực pháp luật và cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài ở những mục dưới đây.
2. Đôi nét về Quốc gia Philippin
Philippines (tiếng Tagalog/tiếng Filipino: "Pilipinas" hoặc "Filipinas"), tên gọi chính thức là Cộng hòa Philippines (tiếng Tagalog/tiếng Filipino: Republika ng Pilipinas; tiếng Anh: Republic of the Philippines) là một đảo quốc có chủ quyền tại khu vực Đông Nam Á. Philippines nằm cách đảo Đài Loan qua eo biển Luzon ở phía Bắc, cách Việt Nam qua biển Đông ở phía Tây, cách đảo Borneo của Indonesia qua biển Sulu ở phía Tây Nam và các đảo khác của nước này qua biển Celebes ở phía Nam, phía đông là biển Philippines và đảo quốc Palau. Philippines nằm trên Vành đai núi lửa Thái Bình Dương và gần với đường xích đạo, do vậy, quốc gia này hằng năm thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các trận động đất và bão nhiệt đới - đây là quốc gia phải hứng chịu nhiều thiên tai vào bậc nhất trên toàn cầu[5], song lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng sinh học ở mức độ cao. Philippines có diện tích 300.000 kilômét vuông (115.831 dặm vuông Anh), là quốc gia rộng lớn thứ 71 trên thế giới, bao gồm 7.641 hòn đảo được phân loại phổ biến thành ba vùng địa lý lớn: Luzon, Visayas, và Mindanao. Thủ đô của Philippines là Manila, còn thành phố đông dân và lớn nhất là Quezon; cả hai thành phố đều thuộc Vùng đô thị Manila.
Về an ninh và Quốc phòng của Philippin:
Tại Khu tự trị Hồi giáo Mindanao, tổ chức ly khai lớn nhất là Mặt trận Giải phóng Dân tộc Moro nay cũng tham gia vào chính phủ về mặt chính trị. Các nhóm quân sự khác như Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro, Quân đội Nhân dân mới theo cộng sản chủ nghĩa, và Abu Sayyaf vẫn hoạt động tại các tỉnh, song sự hiện diện của họ suy giảm trong những năm gần đây do thành công của chính phủ trung ương về mặt an ninh.
Philippines là đồng minh của Hoa Kỳ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiệp định phòng thủ chung giữa hai quốc gia được ký kết vào năm 1951. Philippines ủng hộ các chính sách của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh và tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam. Philippines là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) tồn tại cho đến năm 1977. Sau khi Chiến tranh chống khủng bố bắt đầu, Philippines là một phần trong liên minh hỗ trợ Hoa Kỳ tại Iraq. Hoa Kỳ xác định Philippines là một đồng minh lớn phi NATO. Philippines đang tiến hành các nỗ lực để chấm dứt nội loạn với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
3. Pháp luật Philíppin về đầu tư nước ngoài
Xu hướng tăng trưởng và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Philíppin cho thấy nước này không đạt được nhiều thành tựu kinh tế so với các nước thành viên ASEAN khác. Khuôn khổ pháp luật của Philíppin được nhận định là đặt ra nhiều rào cản cho nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư tại nước này. Không giống các nước thành viên ASEAN khác, Philíppin không ban hành một bộ luật hoặc luật riêng quản lý các vấn đề về đầu tư mà các hoạt động đầu tư trong nước này được điều chỉnh bởi một mạng lưối nhiều quy định và nhiều bộ luật, luật khác nhau, vừa phức tạp và vừa không cụ thể. Không chỉ vậy, các chính sách kinh tế của Philíppin thường thay đổi trong khoảng thời gian ngắn và có thể được xem xét điều chỉnh trong vòng một hoặc hai năm.
Điều này đặt nhà đầu tư nước ngoài vào vị thế bất lợi khi thực hiện các dự án đầu tư dài hạn tại Philíppin.
4. Pháp Luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài ở quốc gia Philippin
Trong pháp luật Philíppin, có Luật Đầu tư Omnibus năm 1987 (Luật Omnibus) và Luật Đầu tư nước ngoài năm 1991 điều chỉnh hoạt ddoonhj đầu tư nước ngoài.
- Luật Omnibus quy định các ưu đãi dành cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào các lĩnh vực được Nhà nước Philíppin ưu tiên. Các ưu đãi này bao gồm một số biện pháp thuế và phí thuế. Các biện pháp phi thuế tập trung vào tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu và đoàn tụ gia đình, nhưng không có các quyền gắn liền với khoản đầu tư. Để được hưởng các ưu đãi trong Luật Omnibus, nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành đầu tư vào lĩnh vực được liệt kê trong danh sách của Kế hoạch ưu tiên đầu tư. Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp có vôn chủ sở hữu nước ngoài trên 40%, ít nhất 70% hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp đó phải nhằm mục đích xuất khẩu. Thêm vào đó, nhà đầu tư phải đăng ký với Ban đầu tư, thành lập theo Luật Omnibus. Cơ quan này chịu trách nhiệm điều tiết và thúc đẩy đầu tư tại Philíppin.
- Luật Đầu tư nước ngoài của năm 1991 Quốc gia Philippin được coi là “một hành động thúc đẩy đầu tư nước ngoài, quy định các quy trình thủ tục cho việc đăng ký các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tại Philíppin” (Theo Lời mở đầu, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1991 của Philíppin. (The 2014 IPP is available at http://rboi.armm.gov.ph/uploads/ DOC_FILES/2014%20IPP.pdf?bcsi_scan_571fca99b36dc46b=l.).
Hàng năm, Chính phủ Philíppin sẽ công bố Kế hoạch ưu tiên đầu tư, trong đó xác định các hoạt động kinh tế ưu tiên do Tổng thốhg phê duyệt.
Ví dụ: bản Kế hoạch năm 2014 xác định bốn lĩnh vực đầu tư được Chính phủ ưu tiên, bao gồm: sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và thủy sản, dịch vụ và cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần. Các cơ quan chính phủ được khuyến khích áp dụng các chính sách và thực hiện các chương trình phù hợp với kế hoạch ưu tiên đầu tư.
Ngoài Luật Đầu tư năm 1991, đầu tư nước ngoài tại Phĩlíppin còn bị điều chỉnh bỏi luật thuộc các lĩnh vực khác. Ví dụ, nhà đầu tư nước ngoài bị cấm sở hữu đất theo Hiến pháp Philíppin. Quyền sử dụng đất tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài là quyền thuê đất trong 50 năm với diện tích tối đa 1.000 hécta, hợp đồng thuê đất có thể được làm mới một lần để gia hạn thêm 25 năm. Theo luật Philíppin, đất phải được sử dụng cho mục đích đầu tư cụ thể, chẳng hạn như cho các cơ sở sản xuất hoặc các khu công nghiệp.
5. Cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài
Bên cạnh pháp luật trong nước, các điều ước quốc tế về đầu tư là một phần quan trọng của chính sách về đầu tư của Philíppin.
Cho đến nay, Philíppin đã ký kết 38 BIT và 04 điều ước quốc tế về đầu tư đa phương. Một số Hiệp định này là các thỏa thuận đầu tư độc lập, những hiệp định khác là các hiệp định thương mại tự do hoặc hiệp định đối tác kinh tế rộng hơn, trong đó bao gồm một chương về đầu tư.
Thời kỳ Philíppin tham gia các điều ước quốc tế về đầu tư thế hệ mới bắt đầu từ việc nước này tham gia Hiệp định ACIA năm 2009. Từ năm 2009, phần lớn các hoạt động ký kết các Hiệp ước đầu tư của Philíppin đều liên quan tới ASEAN, các nước thành viên ASEAN đã ký thêm bốn điều ước quốc tế về đầu tư đa phương với các nước khác là Oxtrâylia và Niu Dilân, Trung Quốc, Hàn Quốc và An Độ. Có thế thấy, chính sách ký kết các điều ước quốc tế về đầu tư của Philíppin tập trung vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Nhìn chung, khoảng 75% các điều ước quốc tế về đầu tư của Philíppin được ký trước năm 2000.
Nội dung các điều ước quốc tế về đầu tư của Philíppin hầu hết bao gồm: định nghĩa về khoản đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, phạm vi điều chỉnh, các nghĩa vụ thực chất như: đối xử quốc gia, đốỉ xử tối huệ quốc, đối xử công bằng và thỏa đáng, bồi thường thiệt hại, chuyển tiền, tước quyền sỏ hữu và đền bù, và giải quyết tranh chấp.
Các điều ước quốc tế về đầu tư thế hệ cũ và thế hệ mới áp dụng các cách tiếp cận khác nhau liên quan tới các nghĩa vụ thực chất, trong đó các điều ước quốc tế về đầu tư thế hệ mới quy định rõ ràng chi tiết hơn.
Điều này thể hiện rõ rệt khi so sánh các điều ước quốc tế về đầu tư ký gần đây của Philíppin, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN, với các hiệp định đầu tư song phương thế hệ trước mà đã được nhà đầu tư nước ngoài sử dụng để khởi kiện Philíppin. Những thay đổi này tương tự như trong trường hợp của Việt Nam.
Hiện tại Philíppin tiếp tục mở rộng việc ký kết điều ước quốc tế về đầu tư. Nước này đang đàm phán một thỏa thuận đầu tư với Mêxicô và một hiệp định thương mại tự do với Hiệp hội thương mại tự do châu Âu.
Trong các Hiệp định này đều có một chương về đầu tư. Philíppin không có thỏa thuận đầu tư với Hoa Kỳ, dù Hoa Kỳ là nguồn FDI lớn nhất của nước này. Giống một số quốc gia khác ở châu Á, Philíppin cũng đang tiến hành rà soát đánh giá lại tất cả các điều ưóc quốc tế về đầu tư. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1994, Philíppin cùng Cộng hòa Pháp ký kết BIT mới thay thế BIT giữa hai nước ký năm 1976.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).