Mục lục bài viết

PHẦN I: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN

VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE,

NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI

1. Giới thiệu chung

về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

nhân phẩm, danh dự của con người

.Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XIV) theo hướng tiếp tục tăng cường bảo vệ các quyền con người, quyền công dântrên tinh thần Hiến pháp năm 2013 với những chế tài nghiêm khắc.

Một số vấn đề cần lưu ý khi bào chữa các vụ án về tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người có thể được chia thành 3 nhóm tội, gồm:

+ Nhóm tội xâm phạm tính mạng của con người

- Tội giết người

- Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ

>> Xem thêm:  Làm nhục người khác là gì ? Tội làm nhục và tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

- Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

- Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

- Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

- Tội vô ý làm chết người

- Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

- Tội bức tử

- Tôi xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

- Tội không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

- Tội đe doạ giết người

+ Nhóm tội xâm phạm sức khoẻ của con người

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội

- Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườii khác

- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

- Tội hành hạ người khác

+ Nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người

- Tội hiếp dâm

- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

>> Xem thêm:  Hình phạt đối với tội vu khống, làm nhục người khác ? Tố cáo hành vi làm nhục như thế nào ?

- Tội cưỡng dâm

- Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

- Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

- Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

- Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

- Tội lây truyền HIV cho người khác

- Tội cố ý truyền HIV cho người khác

- Tội mua bán người

- Tội mua bán người dưới 16 tuổi

- Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

>> Xem thêm:  Bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác có bị phạt tù không ?

- Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

- Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

- Tội làm nhục người khác

- Tội vu khống

2. Một số đặc điểm cơ bản

của tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

2.1 Khách thể của tội phạm:

Khách thể của nhóm tội phạm này là những quan hệ xã hội đảm bảo quyền sống, quyền được an toàn về sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người. Đối tượng tác động theo nghĩa rộng của tội phạm này là con người cụ thể đã được sinh ra và chưa chết. Nếu đối tượng là người đã chết thì bị can, bị cáo có thể phạm tội chưa đạt. Một số điều luật nhà làm luật mô tả độ tuổi của nạn nhân. Theo nghĩa hẹp thì đối tượng tác động của nhóm tội này liên quan đến 3 nhóm tội là tính mnạg, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của con người.

2.1 Mặt khách quan của tội phạm:

Trên thực tế hành vi phạm tội diễn ra hết sức đa dạng và phong phú phù hợp với từng loại tội phạm. Những hành vi này được thực hiện có thể bằng việc sử dụng công cụ phương tiện hoặc chỉ bằng sức người. Nhưng nhìn chung đó là hành vi có khả năng xậm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người.

Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm. Trong một số trường hợp khác, hậu quả của tội phạm tuy không được quy định là dấu hiệu bắt buộc nhưng việc xác định hậu quả là cần thiết, bắt buộc giúp cho việc định khung và quyết định hình phạt đúng đắn

Trong những trường hợp cần xác định hậu quả thì đồng thời phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra

>> Xem thêm:  Viết nội dung đơn tố cáo hành vi đe dọa sức khỏe, tính mạng như thế nào ?

Có một số trường hợp nhà làm luật mô tả dấu hiệu mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, dấu hiẹu hoàn cảnh, phương pháp, thủ đoạn phạm tội và một số điều kiện làm cơ sở để xử lý hình sự

2.3 Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm trong nhóm tội này nhìn chung là chủ thể thường

2.4 Mặt chủ quan:

Lỗi của các tội tại chương này có thể là cố ý, hoặc vô ý tuỳ tường loại tội phạm

PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BIỆT

TỘI DANH TRONG NHÓM TỘI XÂM PHẠM

TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ VÀ NHÂN PHẨM

Trong nhóm tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, có rất nhiều tội mà mặt khách quan có nhiều điểm giống nhau, hoặc các giai đoạn thực hiện hành vi phạm tội có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, để có thể bào chữa và bảo vệ cho thân chủ của mình một cách chính xác và hiệu quả, luật sư cần phân biệt rõ ràng các tội này làm cơ sở cho việc đưa ra các luận cứ và chứng cứ xác thực và thuyết phục. Sau đây là một số các trường hợp cần lưu ý

1.Phân biệt giết người chưa đạt có hậu quả gây thương tích và cố ý gây thương tích

Trường hợp giết người chưa đạt chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp vì người thực hiện hành vi phạm tội mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hậu quả chưa xảy và chỉ có thương tích. Còn trong tội cố ý gây thương tích thì người thực hiện tội phạm chỉ mong muốn hậu quả xảy ra là thương tích

>> Xem thêm:  Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và hình sự ?

Nếu người thực hiện tội phạm giết người với lỗi cố ý gián tiếp thì không xét tới các giai đoạn thực hiện tội phạm, hoặc là người đó có tội, hoặc người đó vô tội. Nếu hậu quả có thương tích thì chỉ kết tội cố ý gây thương tích.

Trong trường hợp cố ý gây thương tích với lỗi gián tiếp, người thực hiện tội phạm có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xảy ra và chấp nhận hậu quả cho dù hậu quả đó là chết người, thương tích hoặc không có hậu quả xảy ra)

2. Phân biệt giết người đã hoàn thành và cố ý gây thương tích dẫn tới chết người

Trong trường hợp giết người, người thực hiện tội phạm có lỗi cố ý với cả hành vi giết người và hậu quả chết người. Lỗi có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp.

Trong trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người thực hiện hành vi phạm tội có lỗi cố ý với hành vi gây thương tích và hậu quả thương tích, nhưng vô ý với hậu quả chết người vì không thấy trước được hậu quả chết người hoặc biết nhưng tin rằng hậu quả đó không thể xảy ra. Việc xác định là vô ý hay cố ý phải dựa vào các công cụ phương tiện thực hiện tội phạm, cách thức tiến hành tội phạm, hoàn cảnh cụ thể, đối tượng nạn nhân…

3. Phân biệt trường hợp giết nguời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người khác và giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Kích động mạnh là việc người bị kích động bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và kiềm chế ở mức độ cao nên lỗi bị hạn chế một phần. Kích động ở trường hợp bình thường chỉ ảnh hưởng tới khả năng nhận thức, điều khiển hành vi ở mức độ thấp.

- Về mặt chủ thể

+ Với giết người trong trường hợp bị kích động mạnh, chủ thể là người bị xâm hại lợi ích hoặc có người thân bị xâm hại lợi ích.

+ Với giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, lợi ích bị xâm hại có thể là lợi ích của nhà nước, tập thể, chính mình hoặc cá nhân khác.

- Về mặt khách quan

>> Xem thêm:  Tội xâm phạm đến sức khỏe danh sự và nhân phẩm bị phạt như thế nào ?

+ Với giết người trong trường hợp bị kích động mạnh, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đã gây nên trạng thái kích động mạnh, thường là những hành vi đã chấm dứt, cá biệt có trường hợp đang diễn ra

+ Với giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, hành vi xâm hại đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc.

​- Về lỗi đều là cố ý

4. Phân biệt giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và làm chết người trong khi thi hành công vụ

Việc so sánh được thể hiện trong bảng sau:

Cấu thành tội phạm

Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Làm chết người trong khi thi hành công vụ

Chủ thể

Có thể là bất cứ ai trong đó có người đang thi hành công vụ

Người thi hành công vụ

Mặt khách quan

Nguyên nhân

Hành vi xâm hại

Hành vi xâm hại

Trường hợp khác: bắt đối tượng truy nã, bỏ chạy …

Hậu quả

Chết người

Chết người

Hành vi

Đủ điều kiện để phòng vệ chính đáng nhưng vượt quá mức cho phép

Người thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép

Mặt chủ quan

Lỗi

Cố ý

Cố ý với hành vi và có trường hợp vô ý với hậu quả chết người

5. Phân biệt tội hành hạ người khác, tội bức tử và làm nhục

Việc phân biệt được thể hiện trong bảng sau:

Cấu thành tội phạm

Bức tử

Hành hạ

Làm nhục

Chủ thể

Nạn nhân và người bị hại có mối quan hệ lệ thuộc

Không hoặc không có mối quan hệ lệ thuộc

Mặt khách quan

Hành vi

Hành hạ

Ngược đãi

Làm nhục

Hành hạ (gây đau đớn về thể xác)

Làm nhục ở mức độ nghiêm trọng

Hậu quả

Người lệ thuộc tự sát, có thể chết người hoặc không

Mặt chủ quan

Lỗi

Có thể:

Cố ý gián tiếp với hậu quả tự sát

Vô ý với hậu quả

Cố ý

Cố ý

6. Phân biệt hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cuỡng dâm và cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và giao cấu với trẻ em

Hiếp dâm

Hiếp dâm trẻ em

Cưỡng dâm

Cưỡng dâm trẻ em

Giao cấu với trẻ em

Chủ thể

Nam giới

Nam giới

Nam giới

Nam giới

Nam giới thành niên

Nạn nhân

Từ đủ 16 tuổi trở lên

Dưới 16 tuổi

Từ đủ 16 tuổi trở lên

Có thể:

- Lệ thuộc vào người thực hiện hành vi tội phạm

- Trong tình trạng quẫn bách

Từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Có thể:

- Lệ thuộc vào người thực hiện hành vi tội phạm

- Trong tình trạng quẫn bách

Từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Chủ quan của nạn nhân

Không chấp nhận việc giao cấu

- 13-16 tuổi:Không chấp nhận việc giao cấu

- Dưới 13 tuổi: bất kể chấp nhận, miễn cưỡng, hay không chấp nhận

Miễn cưỡng chấp nhận

Miễn cưỡng chấp nhận

Đồng tình

Hành vi khách quan

Dùng vũ lực đe doạ dùng vũ lực

Sử dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân

Thủ đoạn khác

để

giao cấu với nạn nhân

- Với nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: các hành vi như hiếp dâm nêu bên

- Với nạn nhân dưới 13 tuổi: dù cưỡng bức hay thuận tình, mọi hành vi giao cấu đều là hiếp dâm

Dùng thủ đoạn khiến người lệ thuộc hoặc quẫn bách miễn cưỡng giao cấu

Dùng thủ đoạn khiến người lệ thuộc hoặc quẫn bách miễn cưỡng giao cấu

Hành vi giao cấu thuận tình

PHẦN II: KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA

CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM VỀ

TÍNH MẠNG SỨC KHỎE DANH DỰ NHÂN PHẨM

1. Chuẩn bị bào chữa tại phiên tòa

Hoạt động bào chữa tại phiên toà là kết quả của quá trình lao động công phu, sáng tạo và cần mẫn của Luật sư với nhiệm vụ thu thập chứng cứ, tài liệu khách quan của vụ án để bảo vệ cho quyền lợi của thân chủ mình. Bản bào chữa là sự kết tinh những giá trị pháp lý được thu thập, đánh giá, lập luận và chứng minh với mục đích thuyết phục Hội đồng xét xử, góp phần tạo lập cơ sở để Hội đồng xét xử ra một phán quyết phù hợp mà Luật sư cho rằng phán quyết đó bảo vệ được cao nhất quyền và lợi ích chính đáng của thân chủ. Trước khi bào chữa tại phiên toà, Luật sư có rất nhiều các hoạt động khác nhau.

>> Xem thêm:  Phát tán ảnh nóng và xúc phạm nhân phẩm người khác lên mạng sẽ bị xử lý như thế nào ?

1.1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ; nhân phẩm, danh dự của con người.

Nghiên cứu hồ sơ là hoạt động của Luật sư khi tham gia bào chữa cho bất kỳ bị can, bị cáo thuộc loại vụ án nào. Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, Luật sư tiếp cận với các chứng cứ của vụ án làm cơ sở cho việc hình thành luận cứ bào chữa.

Trong hồ sơ các tội phạm này thì tài liệu của cơ quan y tế, cơ quan giám định, lời khai và các vật chứng là những tài liệu quan trọng chứng minh có hay không hành vi phạm tội. Luật sư cần phải nghiên cứu, xem xét toàn diện các chứng cứ này.

Cần quan tâm đến biên bản đối chất và biên bản nhận dạng trong hồ sơ vụ án cũng như việc thực nghiệm điều tra.

Cần xác định các vật chứng (công cụ, phương tiện) trong vụ án. Cần xem xét vật chứng trong mối quan hệ với kết quả giám định, với những gì còn để lại trên thân thể (thi thể) nạn nhân.

1.2. Gặp và trao đổi với thân chủ và những người khác liên quan

Việc gặp thân chủ cũng có ý nghĩa bắt buộc như việc nghiên cứu hồ sơ, bởi thông qua thân chủ Luật sư có thêm nhiều thông tin, chứng cứ, hiểu được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của họ.

+ Ðối với người bị hại: Việc gặp gỡ, trao đổi với người bị hại là rất cần thiết.

+ Ðối với người làm chứng: Chỉ gặp gỡ, trao đổi với người làm chứng khi thấy cần thiết (thường là thấy lời khai của họ mâu thuẫn, họ đã bị mua chuộc cưỡng ép).

2. Xây dựng bản bào chữa

Bản bào chữa là kết quả của quá trình nghiên cứu, xem xét và đánh giá các chứng cứ của Luật sư. Mục đích cuối cùng của bản bào chữa là thuyết phục được Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc theo đúng pháp luật và đảm bảo được cao nhất quyền lợi của thân chủ mình. Tuỳ vào khả năng và kinh nghiệm cá nhân mà Luật sư có thể xây dựng bản bào chữa theo hai hình thức:

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

- Bản bào chữa đầy đủ

- Bản bào chữa sơ lươc: Sẽ phân tích, lập luận, bổ sung tại phiên toà.

* Thứ nhất: Trong trường hợp bào chữa theo hướng không phạm tội cần phải làm rõ những căn cứ pháp lý chứng minh điều đó, có thể là:

+ Thân chủ hoàn toàn không có hành vi phạm tội

+ Tuy thân chủ thực hiện hành vi nhưng hậu quả xảy ra không phải là kết quả của duy nhất hành vi đó.

* Thứ hai: Bào chữa theo hướng chuyển sang tội danh nhẹ hơn cho thân chủ.

* Thứ ba: Bào chữa theo hưởng giảm nhẹ cho thân chủ

Trong trường hợp này Luật sư cần xây dựng một bản bào chữa thuyết phục mà nền tảng của nó là những vấn đề sau:

- Tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả xảy ra.

- Thái độ của bị cáo tại phiên toà, trước cơ quan điều tra.

>> Xem thêm:  Hành vi bạo lực với trẻ em dưới 16 tuổi chịu hình phạt gì ? Tội hành hạ, xâm phạm tính mạng trẻ em ?

- Nhận thức của bị cáo...

* Thử tư: Bào chữa theo hướng trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra lại.

3. Tham gia phiên tòa:

- Trong phần khai mạc phiên toà:

+ Nắm danh sách người làm chứng mà toà triệu tập. Nếu thiếu người làm chứng quan trọng và có lợi cho thân chủ thì đề nghị hoãn phiên toà.

+ Trong trường hợp cần giám định viên có mặt tại phiên toà để giải thích kết quả giám định thì đề nghị toà triệu tập giám định viên.

+ Nếu thiếu vật chứng để đưa ra xem xét tại phiên toà thì đề nghị toà giải quyết vấn đề này, nếu xét thấy có lợi cho thân chủ.

- Trong phần xét hỏi:

+ Ghi chép đầy đủ những vấn đề cần thiết mà những người tham gia tố tụng đã trả lời Hội đồng xét xử, kiểm sát viên và những người khác.

+ Cần bổ sung kịp thời những câu hỏi cần thiết sau khi đã nghe xét hỏi (ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị trước khi mở phiên toà).

+ Khi xét hỏi cần hỏi dứt khoát và xoáy sâu vào những mâu thuẫn nhằm đảm bảo có lợi cho thân chủ mình. Ngoài những câu hỏi trực tiếp, trong trường hợp đối tượng được hỏi chuẩn bị trước nội dung trả lời, Luật sư cần đặt ra câu hỏi từ xa.

>> Xem thêm:  Tư vấn về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác qua mạng xã hội ?

+ Ðối với thân chủ của mình, Luật sư nên đặt ra những câu hỏi rõ ràng để họ có cơ hội trình bày, lý giải về những điều có lợi cho bản thân họ trước Hội đồng xét xử.

+ Trong trường hợp bản giám định có những mâu thuẫn và có giám định viên tham gia phiên toà thì cần đặt câu hỏi xoáy sâu vào những mâu thuẫn đó.

- Trong phần tranh luận:

+ Cần bám vào nội dung cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát cũng như ý kiến của bị hại và quan điểm của Luật sư bảo vệ họ để đưa ra những luận điểm phù hợp mang tính thuyết phục cao.

+ Cần phối hợp với thân chủ để tạo ra hiệu quả của việc bào chữa.

+ Các luận điểm đưa ra phải dễ hiểu, ngắn gọn, tập trung đồng thời phải nêu rõ chứng cứ đó được thể hiện ở bút lục nào.

+ Ngôn ngữ, giọng điệu vừa đanh thép, vừa nhẹ nhàng tình cảm khi cần.

- Trong phần tuyên án:

Luật sư cần theo dõi và ghi chép việc HÐXX tuyên phạt thân chủ của mình về tội danh gì, mức phạt cụ thể như thế nào, mức bồi thường bao nhiêu để sau phiên toà giúp thân chủ kháng cáo theo đúng luật định.


CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ biên tập

>> Xem thêm:  Hành vi chửi bới, lăng mạ người khác có bị xử lý hình sự hay không ?

>> Xem thêm:  Nói xấu người khác bị xử lý thế nào ? Khi nào cấu thành tội làm nhục người khác

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng xử phạt thế nào?

Trả lời:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Câu hỏi: Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình xử phạt thế nào?

Trả lời:

1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Câu hỏi: Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại xử phạt thế nào?

Trả lời:

1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.