1. Khái niệm về vụ án dân sự
Tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự có đề cập đến vụ án dân sự, theo đó các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được gọi chung là vụ án dân sự. Có thể hiểu một cách đơn giản, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Khái niệm về chứng cứ
Căn cứ Điều 93 Bộ Luật tố tụng Dân sự quy định về khái niệm chứng cứ như sau:
"Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp".
3. Đặc điểm của chứng cứ
Chứng cứ luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định, là cơ sở giúp Tòa án đưa ra kết luận cuối cùng, vì vậy chứng cứ luôn cần phải đảm bảo 03 yếu tố: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp nhằm tìm ra sự thật khách quan. Cụ thể:
- Tính khách quan: chứng cứ không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người - không được tạo ra chứng cứ.
- Tính liên quan: chứng phải liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vụ việc.
- Tính hợp pháp: chứng cứ phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiên cứu theo trình tự, thủ tục luật định. Ví dụ: chứng cứ phải là một trong các nguồn theo quy định của BLTTDS, phải được giao nộp trong một thời gian luật quy định...
4, Căn cứ xác định chứng cứ
Căn cứ theo Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định nguồn chứng cứ được quy định như sau:
- Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
- Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
- Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
- Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
- Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
- Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Việc tìm hiểu quy định về chứng cứ không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết vụ án.
5. Những khó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật liên quan đến chứng cứ
5.1. Thuật ngữ chứng cứ dùng trong Bộ luật tố tụng dân sự
Thuật ngữ chứng cứ dùng trong Bộ luật tố tụng dận sự chưa thật sự nhất quán, dễ gây nhầm lẫn giữa chứng cứ và nguồn chứng, cữ. Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã định nghĩa về chứng cứ như sau:
“Chứng cứ trong vụ việc, dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được thẹo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm cặn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự lậ có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.
Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định về nguồn chứng cứ như sau:
“Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
2. Các vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Tập quán;
8. Kết quả định giá tài sản;
9. Các nguồn khác mà pháp luật có quỹ định".
Như vậy, quy định ở Điều 81 và Điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành là nhất quán, các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; lời khai của đương sự, v.v. không phải là chứng cứ mà chỉ là nguồn chứng cứ. Các nguồn chứng cứ có thể chứa đựng chứng cứ và có thể không chứa đựng chứng cứ. Nhưng quy định ở Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về xác định chứng cứ thì đã không còn nhất quán theo Điểu 93 và Điều 94 nữa; Điều 95 Bộ luật trên quy định như sau:
“1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định”.
Như vậy, theo quy định của Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nễu trên thì các tài liệu đọc được nội dung nếu lầ bản chính; các tài liệu nghe được, nhìn được nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó; vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc; lời khai của đương Sự, lời khai cua ngưòi làm chứng nếu được ghi bằng văn bản; băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành hoặc lời khai tại phiên toà, V.V., đểu được coi là chứng cứ của vụ việc dân: sự. Khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành cũng có cách thể hiện về chứng cứ giống Điều 97 của Bộ luật đã nêu: “Trong bỉên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thửc, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ”.
Như vậy, quy định ở Điểu 95 và khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã đồng nhất chứng cứ với nguồn chứng cứ, dẫn đến người áp dụng pháp luật cũng có sự nhầm lẫn trong việc phân biệt chứng cứ và nguồn chứng cứ. Sự đồng nhất đó, nhiều khi đã dẫn đến đánh giá sai lầm, giải quyết không đúng vụ việc dân sự.
5.2. Pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ
không quy định thời hạn giao nộp chứng cứ nên để đối phó nhau, có trường hợp đến khi Toà án mở phiên toà đương sự mới xuất trình tài liệu chứng cứ, thậm chí có vụ khi xét xử phúc thẩm, hoặc ỏ giai đoạn giám đốc thẩm đương sự mới giao nộp chứng cứ cho Toà án. Việc giao nộp chứng cứ chậm làm cho phía đương sự bên kia không có thời gian thu thập tài liệu, chứng cứ để phản bác lại, nó không chỉ thể hiện sự thiếu công bằng giũa các dương sự với nhau mà còn gây khó khăn cho Toà án trong quá trình giải quyết, làm cho tố tụng bị kéo dài. Mặt khác, ở giai đoạn giám đốc thẩm (trước hoặc sau khi có kháng nghị), cấp giám đốc có quyền tự mình chủ động đi xem xét, thẩm định tại chỗ, thu thập tài liệu chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, nhân chứng, trưng cầu giám định hay không? Hoặc trước khi có kháng nghị, hay sau khi có kháng nghị mà đương sự có đơn yêu cầu cấp giám đốc thẩm tiến hành mệt số biện phấp thu thập chứng cứ được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì cấp giám đốc thẩm có quyền thu thập chứng cứ không? Khi tiến hành thu thập chứng cứ có phải ra quyết định về việc thu thập chứng cứ như quy định ỏ Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành không? Do. Bộ luật tố tụng dân sự chưa qùy định rõ nên còn có nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Bệ luật tố tụng dân sự không quy định cấm cấp giảm đốc thẩm thu thập chứng cứ thì cấp giám đốc thẩm có quyền tự mình tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ (không cần phải có yêu cầu của đương sự) và không cần thiết phải ra quyết định như quy định ỏ khoản 3 Điều 85 Bộ luật: tố tụng dân sự hiện hành.
Quan điểm thứ hai về cơ bản tán thành quan điểm thứ nhất nhưng cho rằng, Tòa ận cấp nào khi thu thập chứng cứ cũng đểu phải tuân theo quy định ở Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.
Quan điểm thứ ba cho rằng, cấp giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba, vì vậy, trước khi có kháng nghị hay sau khi có kháng nghị (kể cả giai đoạn xét xử giám đốc thẩm) cấp giám đốc thẩm không có quyền tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ. Cấp giám đốc thẩm chỉ xem xét trên cơ sỏ hồ sơ hiện có và tài liệu đương sự mới xuất trình kèm theo đơn khiếu nại để xem xét quyết định theo trình tự của Tòa phá án. Nhiều nước trên thế giới cũng chọn giải pháp này. Nếu chúng ta thừa nhận cho cấp giám đốc thẩm có qụyền thực hiên các biện phấp thu thập chứng cứ như quy định ở Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành là đã ít nhiều gián tiếp thừa nhận trên thực tế cấp giám đốc thẩm là cấp xét xử thứ ba chứ không còn là cấp chỉ xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật khi có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; kết luận trong bẫri án, quyết đinh tròng; bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Như vậy, các sai lầm trong bản án, quyết định đó là rõ ràng, các đương sự đã chứng minh được thì mới xem xét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc có tình tiết mối thì tái thẩm. Vì vậy, dù Bộ luật tố tụng dân sự không có quy định cấm cấp giám đốc thẩm thu thập chứng cứ nhưng phải giải thích pháp luật theo hướng nói trên thì mới phù hợp với các nguyên tắc chung. Hơn nữa, công dân có quyển làm những việc pháp luật không cấm, nhưng cơ quan công quyền chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Có như vậy mới tránh được việc giải thích mỏ rộng quyền của cơ quan nhà nước, mới tránh được lạm quyền.
5.3. Khó khăn trong hoạt động thu thập tài liệu chứng cứ giữa các cơ quan liên quan
Mặc dù Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định:
"Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát".
Tại Điều 495 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành có quy định về biện pháp xử lý các cá nhân, cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Toà án về việc cung cấp chứng cứ cho Toà án. Nhưng thực tế nhũng quy định này có hiệu lực rất thấp trong thực tiễn. Vì vậy, việc các cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan chuyên môn như cơ quan tài nguyên môi trường, nhà đất, hải quan, lưu trữ, xuất nhập cảnh, ngân hàng, ủy ban nhân dân là nơi thường nắm giữ những thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự nhưng nhiều khi cán bộ các cơ quan này thiếu sự hợp tác tích cực trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu cửa đương sự, thậm chí có trưồng hợp Toà án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ còn gặp trỏ ngại. Cho đến nay, vẫn chưa có một cơ chế xử lý thích hợp, có hiệu quả đôi với các trường hợp thiếu sự hợp tác tích cực của cá nhân, của các cơ quan chức năng đang nắm giữ tài liệu liên quan đến vụ án. Trên thực tế, đã có những trường hợp cơ quan chức năng không cung cấp cho Toà án đầy đủ tài liệu, chứng cứ từ đầu, mà mỗi giai đoạn tố tụng khi được yêu cầu họ cung cấp thêm một ít, hoặc cung cấp khác với trước, làm cho kết quả xét xử ở mỗi cấp rất khác nhau, nó làm giảm tính ổn định của các bản án.