1.Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, dù được kí kết hoàn chỉnh đến đâu, thì bản thân nó cũng không thể dự kiến và điều chỉnh được mọi vấn đề và tình huống có thể phát sinh trong thực tế. Do đó, cần quy định điều khoản chọn luật điều chỉnh trong hợp đồng, nhằm tạo một cơ sở pháp lí cụ thể, giúp các bên dựa vào đó để xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Bằng việc sử dụng điều khoản chọn luật, các bên có thể thoả thuận luật áp dụng. Ví dụ, các bên có thể đưa vào hợp đồng điều khoản với nội dung sau: ‘Hợp đồng được lập giữa các bên sẽ được điều chỉnh và giải thích theo luật  của Ca-na-đa…’, hoặc có thể là ‘Luật áp dụng hiệu lực và việc thực hiện hợp đồng này sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước người mua ghi trên đơn đặt hàng này’. Sau khi các bên thoả thuận chọn luật áp dụng, mặc dù các bên có thể không có bất kì một mối liên hệ nào với hệ thống luật điều chỉnh mà họ đã lựa chọn, thì sự lựa chọn của họ vẫn có hiệu lực. Luật áp dụng có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế hoặc các tập quán thương mại quốc tế.

2.Luật quốc gia

Luật quốc gia trở thành luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế khi: - Các bên thoả thuận trong hợp đồng, nghĩa là ngay từ lúc đàm phán, kí kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận điều này; - Các bên thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng được kí kết. Có thể vào lúc giao kết hợp đồng, vì lí do chủ quan hoặc khách quan, các bên đã không thoả thuận luật áp dụng cho hợp đồng, khi có tranh chấp xảy ra hoặc sau khi kí hợp đồng, các bên vẫn có thể đàm phán với nhau để thoả thuận chọn luật áp dụng. - Nếu điều ước quốc tế dẫn chiếu tới luật quốc gia, thì luật quốc gia sẽ trở thành luật điều chỉnh hợp đồng. Ví dụ, Công ước La Hay 1955 về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế dẫn chiếu đến luật nước người bán tại Điều 3 như sau: Trong trường hợp các bên không thoả thuận luật áp dụng cho hợp đồng, thì hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật quốc gia của nước mà người bán cư trú tại thời điểm người bán nhận được đơn đặt hàng. Nếu đơn đặt hàng gửi tới trụ sở của người bán, thì hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật quốc gia nơi thành lập trụ sở của người bán. - Cơ quan giải quyết tranh chấp chọn luật điều chỉnh. Lúc này, nếu cơ quan giải quyết tranh chấp chọn luật quốc gia, căn cứ vào các học thuyết khác nhau, thì luật quốc gia sẽ trở thành luật điều chỉnh hợp đồng. Theo học thuyết ‘trao quyền’ (‘vested right’ doctrine), toà án hoặc trọng tài sẽ áp dụng luật của nước nơi có quyền của các bên trong tranh chấp. Đó có thể là luật của nơi giao kết hợp đồng nếu tranh chấp liên quan đến hiệu lực của hợp đồng, và có thể là luật của nơi thực hiện hợp đồng nếu tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hợp đồng. Học thuyết ‘trao quyền’ này là căn cứ truyền thống để toà án hoặc trọng tài xác định luật áp dụng. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ duy nhất. Những năm gần đây, nhiều nước theo hệ thống civil law thay đổi nguyên tắc chọn luật áp dụng, vì họ cho rằng học thuyết ‘trao quyền’ quá cứng nhắc và không phản ánh chính xác lợi ích thực sự của các nước mà luật của các nước này có thể hoặc không thể được áp dụng. Phần lớn các nước chọn luật áp dụng dựa trên học thuyết ‘nước có quan hệ mật thiết nhất’ (‘most significant relationship’ doctrine). Một số nước lại chọn học thuyết ‘lợi ích nhà nước’ (‘governmental interests’ doctrine). Học thuyết ‘nước có quan hệ mật thiết nhất’ chỉ ra rằng toà án hoặc trọng tài sẽ áp dụng luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhất với các bên và với giao dịch của họ. Thực chất, toà án sẽ xem xét những yếu tố sau trong mọi trường hợp: (i) Luật nước nào thúc đẩy tốt nhất các nhu cầu của hệ thống quốc tế? (ii) Luật nước nào sẽ được thúc đẩy, thông qua việc áp dụng vào vụ việc cụ thể? và (iii) Luật nước nào sẽ thúc đẩy tốt nhất những chính sách, pháp luật có liên quan? Ngoài ra, toà án sẽ xem xét ‘các yếu tố cụ thể’, căn cứ vào từng loại tranh chấp mà toà án phải giải quyết. Và những yếu tố cụ thể trong các tranh chấp hợp đồng thường là: (i) Nơi giao kết hợp đồng; (ii) Nơi đàm phán hợp đồng; (iii) Nơi thực hiện hợp đồng; (iv) Nơi có đối tượng tranh chấp; và (v) Quốc tịch, nơi cư trú, nơi thường trú, nơi có trụ sở doanh nghiệp của các bên. Nếu toà án áp dụng học thuyết ‘lợi ích nhà nước’, trước hết, sẽ không chọn luật áp dụng, trừ trường hợp các bên yêu cầu. Nếu các bên không yêu cầu, toà án sẽ chọn luật nước họ để giải quyết. Nếu các bên yêu cầu, toà án sẽ nghiên cứu xem nước nào có lợi ích chính đáng trong việc xác định kết quả của tranh chấp. Nếu chỉ có nước có toà án có lợi ích (trường hợp xung đột giả), tất nhiên, toà án sẽ chọn luật nước mình. Nếu cả nước có toà án và nước khác cùng có lợi ích chính đáng (trường hợp xung đột thật), thì toà án sẽ áp dụng luật của nước có toà án, vì đương nhiên là toà án sẽ hiểu các lợi ích này rõ hơn. Nếu hai nước, đều không phải là nước có toà án, và đều có lợi ích chính đáng (cũng là trường hợp xung đột thật), thì toà án sẽ bỏ vụ kiện, nếu nước, nơi có toà án, muốn áp dụng học thuyết ‘toà án không thích hợp’ (‘forum non conveniens’). Nếu không, toà án sẽ chọn luật của bất kì nước nào mà toà án cho là thích hợp nhất, và thông thường sẽ là luật của nước nơi có toà án . Pháp luật Việt Nam quy định một số hạn chế trong việc chọn luật áp dụng. Điều 769 Bộ luật dân sự quy định như sau: ‘Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam’. Như vậy, nếu hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam, thì toà án Việt Nam, khi thụ lí, sẽ luôn áp dụng pháp luật Việt Nam, kể cả khi các bên lựa chọn luật áp dụng là luật của nước khác. Tương tự, Điều 770 Bộ luật dân sự cũng từ chối chọn luật điều chỉnh hình thức của hợp đồng. Luật do các bên lựa chọn sẽ không được thừa nhận, nếu luật đó hoặc hậu quả của việc áp dụng luật đó trái với trật tự công cộng và các nguyên tắc cơ bản của nước mà một trong các bên chủ thể của tranh chấp mang quốc tịch, và luật đó cũng sẽ vô hiệu.  Các nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam được ghi nhận từ Điều 10 đến Điều 15 Luật Thương mại, và 9 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được nêu rõ trong các điều từ Điều 4 đến Điều 12 Bộ luật dân sự.

3. Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là sự thoả thuận bằng văn bản có giá trị ràng buộc về pháp luật giữa hai hay nhiều nước hay chủ thể khác của pháp luật quốc tế. Khoản 1 Điều 2 Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005 quy định: ‘Điều ước quốc tế là thoả thuận bằng văn bản được kí kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thoả thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.’ Điều ước quốc tế sẽ điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế khi: (i) Các bên mang quốc tịch của các nước là thành viên của điều ước; hoặc (ii) Quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của nước thành viên của điều ước. Ví dụ, CISG vẫn có thể điều chỉnh hợp đồng, trong trường hợp trụ sở kinh doanh của người bán và người mua không phải là ở các nước thành viên của CISG. Giả sử người bán có trụ sở kinh doanh ở nước A (không phải là nước thành viên), và người mua có trụ sở kinh doanh ở nước B (cũng không phải là nước thành viên). Người bán và người mua giao kết hợp đồng tại nước C (là nước thành viên của CISG). Và người bán vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng tại nước C. Người mua khiếu kiện tại nước B, và quy tắc chọn luật của nước B dẫn chiếu đến luật áp dụng là luật của nước C. Vì nước C là thành viên của CISG và đây là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, nên nó sẽ được điều chỉnh bởi CISG. Trong trường hợp điều ước quốc tế quy định việc áp dụng luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc những điều khoản khác với luật quốc gia, thì quy định của điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng. Nguyên tắc này được thừa nhận ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

4. Tập quán thương mại quốc tế

Để một thói quen trở thành tập quán thương mại quốc tế, cần phải thoả mãn hai điều kiện. Thứ nhất, đó phải là thói quen, thuật ngữ La-tinh là ‘usus’, đòi hỏi sự lặp đi lặp lại và nhất quán ở các nước. Bằng chứng của sự lặp đi lặp lại này thể hiện trong các tuyên bố chính thức của chính phủ, bao gồm thư từ ngoại giao, chính sách, thông cáo báo chí, quan điểm của các luật gia, văn bản dưới luật. Tính nhất quán và lặp đi lặp lại không căn cứ theo thời gian, mà thể hiện ở việc nước đó coi đó là quy tắc ứng xử, và cũng như không có nghĩa là tất cả các nước đều phải tuân theo quy tắc này. Ngoài ra, quy tắc này phải được nhiều nước áp dụng, trong một thời gian đủ dài, để toà án thừa nhận như một tập quán duy nhất và nhất quán. Thứ hai, về mặt tâm lí, thói quen đó phải được thừa nhận là ‘luật’. Các nước thường sử dụng tiêu chí ‘thừa nhận’ trong việc xác định một tập quán có tính ràng buộc về mặt pháp luật hay không? Điều này được thể hiện bằng thuật ngữ La-tinh ‘opinio juris sive necessitatis’. Tập quán thương mại quốc tế sẽ là luật áp dụng cho hợp đồng, khi các bên thoả thuận trong hợp đồng hoặc khi chúng được dẫn chiếu đến. Khi luật áp dụng không giải quyết được tranh chấp thì tập quán thương mại quốc tế cũng thường được dẫn chiếu để giải quyết.

5. Các nguồn luật khác

Các bên có thể thỏa thuận áp dụng các nguồn luật khác để điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế như các nguyên tắc chung về hợp đồng (Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 PICC), các hợp đồng mẫu…

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)