Luật sư tư vấn: Cảm ơn câu hỏi của chị. Thay mặt Luật Minh Khuê, tôi xin tư vấn như sau:

1. Tài sản là quyền sở hữu tài sản

Theo luật, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyến tài sản.

Tài sản được phần loại thành bất động sản và động sản.

Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Tài sản thường được xác định gắn liền với chủ sở hữu của nó. Vậy một người làm thế nào để trở thành chủ sở hữu của một tài sản nào đó và khi là chủ sở hữu thì người này được những quyền gì đối với tài sản của mình. Hay trường hợp khi tài sản được vợ chồng sở hữu thì việc quyết định tài sản chung này cũng có nhiều khác biệt so với tài sản thuộc từng cá nhân. Mặt khác mỗi loại tài sản có quy định riêng biệt về việc xác lập và sở hữu nó. Trong chương này, tác giả sẽ lần lượt trình bày các vấn đề quan trọng nhất về tài sản mà một người cần phải biết.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì quyền sở hữu là những quyền dân sự đối với tài sản và Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác nhận: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”. Đây là những quyền dân sự cụ thể của chủ sở hữu, ba quyền năng trên hợp thành nội dung quyền sở hữu.

* Quyền chiếm hữu
Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Điều này được hiểu theo một cách đơn giản và thông thường nhất là sự nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với một hay nhiều tài sản. Quyền chiếm hữu sẽ có hai loại đó là chiếm hữu ngay tình (chiếm hữu có căn cứ pháp luật) và việc chiếm hữu không ngay tình (chiếm hữu không có căn cứ pháp luật).

* Quyền sử dụng
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền sử dụng là quyền trong việc khai thác công dụng, cũng như hưởng các hoa lợi, lợi tức của tài sản. Có thể hiểu một cách đơn giản, quyền sử dụng của chủ sở hữu tài sản là việc khai thác cũng như việc hưởng lợi ích từ khối tài sản khai thác được trong phạm vi pháp luật cho phép. Về nguyên tắc, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

* Quyền định đoạt
Quyền định đoạt là một trong các quyền năng của chủ sở hữu để quyết định số phận của tài sản. Căn cứ theo Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền định đoạt là quyền thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữ, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền định đoạt của mình trên hai phương diện: Thứ nhất, định đoạt về số phận thực tế của tài sản như tiêu dùng hết, hủy bỏ hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản; thứ hai, định đoạt về số phận pháp lý của tài sản là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ người này sang người khác.

2. Tại sao phải xác lập quyển sở hữu tài sản?

Theo quy định của pháp luật, quyền sở hữu bao gồm quyển chiếm hữu, quyển sử dụng và quyển định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Quyển chiếm hữu cho phép bạn nắm giữ, quản lý tài sản, ví dụ như bạn được quyển cất giữ, bảo quản chiếc xe máy của bạn tại nhà. Trong khi đó quyền sử dụng cho phép bạn khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, ví dụ như bạn được quyền sử dụng chiếc xe máy của bạn

để đi lại, chở người thân hoặc chạy xe ôm kiếm thêm thu nhập. Và cuối cùng quyền định đoạt cho phép bạn chuyển giao quyển sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó, ví dụ như bạn được quyển bán hoặc tặng cho chiếc xe máy đó cho người khác.

Một người chỉ được xem là chủ sở hữu của một tài sản nào đó nếu người này có được đủ ba quyến nêu trên thông qua việc xác lập quyển sở hữu tài sản. Trong cuộc sống thường ngày cũng có nhiều người được trao một, hai hoặc cả ba quyển trên nhưng không phải là chủ sở hữu của tài sản.

Ví dụ, người trông giữ xe được chủ sở hữu gửi xe thì có quyền nắm giữ, quản lý chiếc xe đó trong thời gian trông giữ chiếc xe đó, bố mẹ có thể cho con cái mượn xe máy để đi làm, con có quyền quản lý và sử dụng chiếc xe này nhưng không có quyền định đoạt chiếc xe bằng cách bán cho người khác, nhưng cũng có trường hợp bố mẹ ủy quyền đầy đủ ba quyền nêu trên cho người con nhưng người con vẫn không phải là chủ sở hữu của chiếc xe này. Như vậy, việc có đủ ba quyển nêu trên đối với tài sản nhưng vẫn có thể chưa được công nhận là chủ sở hữu của tài sản. Bởi vì ngoài yếu tố được thực hiện các quyền đối với tài sản, pháp luật còn yêu cầu chúng ta phải thực hiện các thủ tục pháp lý với cơ quan quản lý Nhà nước.

3. Các căn cứ xác lập quyển sở hữu tài sản

Pháp luật đã liệt kê các trường hợp quyển sở hữu được xác lập đối với tài sản như dưới đây:

- do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

- được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyển khác;

- thu từ hoa lợi, lợi tức;

- tạo thành sản phẩm mới sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

- được thừa kế tài sản;

- chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấy, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

- chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản; và

- các trường hợp khác do luật quy định.

Như vậy, nếu bạn có được tài sản trong bất kỳ trường hợp nào trong 8 trường hợp nêu trên thì bạn sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản đó.

Trong trường hợp trên, việc con chị được thừa kế lại mảnh vườn từ ông nội theo di chúc là một căn cứ để xác lập quyền sở hữu mảnh vườn đó.

4. Thời điểm xác lập quyển sở hữu tài sản được xác lập

Tùy thuộc vào loại tài sản mà cá nhân, tổ chức sẽ có các cách thức xác lập quyền sở hữu khác nhau. Có những tài sản, quyền sở hữu sẽ được xác lập kể từ khi tài sản được hình thành, tạo ra hoặc khi nhận chuyển nhượng; trong khi đó cũng có những tài sản, pháp luật yêu cẩu cá nhân, tổ chức sở hữu phải thực hiện một số thủ tục đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyển để được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của họ đối với các tài sản này. Theo Bộ luật Dân sự, quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản sẽ phải được đăng ký. Đối với các tài sản là động sản, quyền sở hữu, quyền khác đối với những loại tài sản này nhìn chung khồng phải đăng ký, trừ một số loại động sản đặc thù mà pháp luật quy định cần phải đăng ký như tàu bay, tàu biển, phương tiện đường thủy nội địa, tàu cá, phương tiện cơ giới đường bộ, V.V..

Hiện nay việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản tại Việt Nam chưa được pháp luật quy định tại một văn bản pháp luật chung, thống nhất mà vẫn còn quy định khá rải rác tại nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật khác nhau. Chẳng hạn như để xác lập quyển sử dụng đối với tài sản đặc biệt là đất đai, các quy định về việc đăng ký quyền sử dụng đất tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai sẽ được áp dụng. Trong khi đó, để đãng ký quyển sở hữu đối với phương tiện cơ giới, luật giao thông vận tải và các văn bản hướng dẫn của văn bản luật này sẽ được áp dụng. Thực trạng này dẫn đến một tình huống là người dân sẽ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu loại tài sản nào thì cần phải đăng ký với cơ quan Nhà nước để được công nhận quyển sở hữu còn loại tài sản nào thì không cần và nếu cần phải đăng ký thì thủ tục thực hiện ra sao.

Để bạn có thêm thông tin và thuận tiện trong việc thực hiện các công việc này, tác giả trình bày các thủ tục xác lập quyền sở hữu đối với một số loại tài sản mà bạn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày và các vấn đề pháp lý có liên quan đối với các quyển này tại các phần dưới đây.

Như vậy, trong trường hợp trên, sau khi thực hiện việc mở di chúc, cần phải thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo di chúc. Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định 04 mốc độ tuổi mà theo đó có những điều kiện tham gia giao dịch, nhất là giao dịch về bất động sản là khác nhau. Trong đó, có quy định Người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

5. Người chưa thành niên có được sở hữu tài sản không?

Pháp luật Việt Nam không quy định độ tuổi để cá nhân có quyền sở hữu tài sản. Do đó, vể nguyên tắc, con chưa thành niên cũng có thể sở hữu các tài sản như cha, mẹ và pháp luật sẽ không hạn chế quyền sở hữu tài sản của con. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khi quy định rằng con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Pháp luật quy định tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

Cách thức xác lập quyền sở hữu của con cái đối với tài sản riêng của con cũng tương tự như đối với cha, mẹ. Theo đó, trừ các tài sản mà pháp luật có quy định phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được pháp luật công nhận quyển sở hữu, quyển sở hữu của con cái đối với tài sản riêng sẽ được xác lập kể từ khi tài sản được hình thành, tạo ra hoặc khi nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, V.V..

Mặc dù không hạn chế về quyển sở hữu riêng của con cái nhưng con dưới 15 tuổi sẽ bị pháp luật hạn chế vế quyển quản lý tài sản của mình. Theo đó, tài sản của con dưới 15 tuổi sẽ do cha mẹ quản lý. Cha, mẹ có thể ủy quyển cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Trong quá trình quản lý tài sản của con dưới 15 tuổi, cha, mẹ hoặc người giám hộ có quyển định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con. Tuy nhiên nếu con đã đủ từ 09 tuổi trở lên, pháp luật quy định việc định đoạt tài sản của con trong trường hợp này sẽ cần phải xem xét đến nguyện vọng của con.

Căn cứ Điều 77 quy định về việc quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên:

“Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.

3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.”

Khi con đã từ đủ 15 tuổi (không bị mất năng lực hành vi dân sự), cha, mẹ hoặc người đang quản lý tài sản phải giao lại tài sản cho con, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác. Từ độ tuổi này cho đến 18 tuổi, pháp luật cho phép con cái có quyền định đoạt tài sản riêng của mình. Tuy nhiên, đối với các tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyển sử dụng hoặc khi con cái muốn dùng tài sản để kinh doanh, pháp luật vẫn bắt buộc con cái cần phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ.

* Cha mẹ định đoạt tài sản cho con chưa thành niên

Cha mẹ có quyền định đoạt tài sản của con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi căn cứ Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ.

Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, khi cha mẹ định đoạt tài sản phải tuân thủ quy định tại Bộ luật dân sự, người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

* Người giám hộ quản lý tài sản cho người chưa thành niên có trách nhiệm sau:

Căn cứ Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015:

Người giám hộ của người chưa thành niên có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ