Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự (Bürgerliches Gesetzbuch) năm 1896 (BLDS), có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 1990, sửa đổi năm 2002;
- Bộ luật Thương mại (Handelsgesetzbuch) năm 1897 (BLTM), có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 1990, sửa đổi năm 1998;
- Luật Công ty hợp danh chuyên nghiệp (Partnerschaftsgesellschaft) ban hành ngày 25 tháng 6 năm 1994, sửa đổi năm 1998;
- Luật Công ty cổ phần (Aktiengesetz) có hiệu lực ngày 06 tháng 9 năm 1965;
- Luật Công ty TNHH (Gesetz betreffend Gesellschaft mit beschränker Haftung) năm 1892, sửa đổi năm 1980, và Luật quy định Bổ sung về công ty TNHH (Gesetz zur Modernisierung des GmbH – Rechts und zur Bekämpfung von Missbräuchen) năm 2008 quy định về công ty TNHH;
- Luật Tổ chức lại công ty (Umwandlungsgesetz) có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995;.
- Luật Phá sản năm 1994 (Insolvenzordnung);
- Luật Đồng quyết năm 1976 (Mitbestimmungsgesetz) và Luật về Sự tham gia của bên thứ ba năm 2004 (Drittelbeteiligungsgesetz;
1. Đặc điểm về công ty cổ phần ở CHLB Đức
Công ty cổ phần là mô hình công ty rất được ưa chuộng với những nhà đầu tư muốn huy động lượng vốn lớn trong kinh doanh. Công ty cổ phần theo quy định của Luật Công ty cổ phần là mô hình có các đặc trưng sau:
- Có tư cách pháp nhân sau khi được đăng ký kinh doanh, thể hiện ở các điểm sau: Công ty có tài sản riêng và phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản đó; Công ty có các quyền và nghĩa vụ độc lập với thành viên công ty; và Công ty nhân danh chính mình khi tham gia các quan hệ pháp luật.
- Vốn điều lệ khi thành lập công ty cổ phần tối thiểu là 50.000 EUR và được chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là 1 EUR (Điều 6 Luật Công ty cổ phần).
- Cổ đông của công ty cổ phần có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà mình sở hữu.
- Cổ phần của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng cổ phần của công ty có thể thực hiện dễ dàng trên thị trường chứng khoán.
- Công ty cổ phần được phát hành các loại cổ phần khác nhau để huy động vốn. Về nguyên tắc, mỗi loại cổ phần đều mang đến những quyền và nghĩa vụ như nhau cho các cổ đông sở hữu cổ phần đó. Cổ phần phổ thông là loại cổ phần cơ bản của mỗi công ty cổ phần.
Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều loại cổ phần ưu đãi như: cổ phần ưu đãi không có quyền biểu quyết (Những cổ đông sở hữu cổ phần này không được quyền biểu quyết các vấn đề tại cuộc họp Đại Hội đồng cổ đông nhưng được quyền hưởng cổ tức nhiều hơn so với các loại cổ phần khác), cổ phần hạn chế quyền biểu quyết (Số phiếu biểu quyết của cổ đông có thể bị giảm xuống so với tổng số cổ phần mà họ sở hữu.
Ví dụ, theo Điều 328 Luật Công ty cổ phần, nếu hai công ty cổ phần đồng thời sở hữu cổ phần của nhau và sở hữu nhiều hơn 25% số cổ phần thì khi biểu quyết các vấn đề quan trọng, số phiếu biểu quyết chỉ tương đương với 25% cổ phần, số cổ phần vượt quá được coi là không có quyền biếu quyết) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Cổ đông sở hữu cổ phần này có nhiều hơn 1 phiếu biểu quyết cho mỗi cổ phần mà họ sở hữu).
2. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần ở CHLB Đức
- Công ty cổ phần được quản lý bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát. Đại hội đồng Cổ đông: Là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty cổ phần, gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết. Các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông được quyết định thông qua biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng Cổ đông, theo đó, những vấn đề ít quan trọng được thông qua khi có trên 50% phiếu biểu quyết chấp thuận.
Trong trường hợp thay đổi thành viên Ban Kiểm soát hoặc thành viên Ban Kiểm soát phủ quyết quyết định của Hội đồng Quản trị, quyết định của Đại hội đồng Cổ đông được thông qua khi có ít nhất 75% phiếu biểu quyết đồng ý. Đối với những quyết định quan trọng của công ty như thay đổi điều lệ, tăng vốn điều lệ…, quyết định của Đại hội đồng Cổ đông được thông qua khi có ít nhất 75% phiếu biểu quyết đồng ý. Sự khác biệt của trường hợp hai và trường hợp ba, đó là trong trường hợp ba, việc xác định phiếu biểu quyết có sự loại trừ đối với cổ phần hạn chế biểu quyết 11. Hội đồng Quản trị: Là cơ quan quản lý công ty cổ phần. Các thành viên Hội đồng Quản trị có trách nhiệm quản lý công ty và đại diện cho công ty trong quan hệ với các bên thứ ba.
Thành viên Hội đồng Quản trị do Ban Kiểm soát bầu (quyết định được thông qua khi có trên 50% phiếu biểu quyết đồng ý). Ban Kiểm soát: Theo quy định của Luật Đồng quyết, nếu công ty có ít hơn 500 lao động thì không cần có đại diện của người lao động trong Ban Kiểm soát. Công ty cổ phần có từ 500 đến 2.000 lao động phải có một phần ba số thành viên Ban Kiểm soát là đại diện của người lao động. Công ty có trên 2.000 lao động thì Ban Kiểm soát phải có một phần hai số thành viên là đại diện của người lao động .
3. Đặc điểm của công ty TNHH ở CHLB Đức
Công ty TNHH là mô hình công ty do các nhà làm luật người Đức sáng tạo trên cơ sở kết hợp ưu điểm của mô hình công ty hợp danh và mô hình công ty cổ phần. Công ty TNHH theo quy định của pháp luật CHLB Đức có những đặc trưng sau:
- Công ty có tư cách pháp nhân từ khi được đăng ký kinh doanh (Điều 13 Luật Công ty TNHH).
- Khác với thành viên hợp danh của công ty hợp danh, thành viên công ty TNHH chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình tại công ty.
- Phần vốn góp của các thành viên công ty TNHH có thể được chuyển nhượng. Nhưng khác với sự tự do chuyển nhượng ở công ty cổ phần, việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH phải được lập thành văn bản có công chứng. Và điều lệ của công ty có thể quy định các trường hợp hạn chế chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật CHLB Đức quy định công ty TNHH phải có tối thiểu 25.000 EUR khi đăng ký thành lập (Điều 5 Luật Công ty TNHH). Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư khi thành lập công ty TNHH tại Đức, đạo luật quy định bổ sung về công ty TNHH đã cho phép các nhà đầu tư có thể thành lập công ty TNHH có quy mô nhỏ (Unternehmergesellschaft (UG) – mini GmbH) với 1 EUR để khởi động cho hoạt động kinh doanh. Những công ty TNHH với quy mô nhỏ này không được coi là mô hình kinh doanh mới ở Đức mà chỉ là một dạng đặc biệt của mô hình công ty TNHH. Khi những công ty TNHH này đạt đến mức vốn điều lệ là 25.000 EUR sẽ tự động chuyển thành công ty TNHH thông thường.
4. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ở CHLB Đức
Pháp luật Đức quy định hai mô hình tổ chức quản lý công ty TNHH: mô hình hai cấp quản lý và mô hình ba cấp quản lý. Đối với mô hình hai cấp quản lý: công ty TNHH được quản lý bởi Hội đồng Thành viên (hoặc chủ sở hữu đối với công ty TNHH một chủ) và giám đốc (hoặc Ban Giám đốc). Ở mô hình ba cấp quản lý: công ty TNHH được quản lý bởi Hội đồng Thành viên (hoặc chủ sở hữu đối với công ty TNHH một chủ), giám đốc (hoặc Ban Giám đốc) và Ban Kiểm soát.
- Hội đồng Thành viên: Là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty TNHH, bao gồm tất cả các thành viên của công ty (kể cả những thành viên không có quyền biểu quyết). Hội đồng thành viên quyết định các vấn đề của công ty thông qua biểu quyết tại các cuộc họp Hội đồng Thành viên do giám đốc triệu tập. Hội đồng thành viên phải được họp ít nhất mỗi năm một lần (khi kết thúc năm tài chính của công ty), ngoài ra, có thể được họp để giải quyết những vấn đề quan trọng của công ty như: sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty, tăng, giảm vốn điều lệ, chấm dứt hoạt động của công ty… (Điều 46 Luật Công ty TNHH năm 1892). Đối với công ty TNHH một chủ thì chủ sở hữu là người quyết định cao nhất của công ty. Những quyết định của chủ sở hữu sau khi được đưa ra phải được lập thành văn bản có chữ ký của chủ sở hữu.
- Giám đốc (hoặc Ban Giám đốc) Công ty TNHH có thể do một hoặc nhiều giám đốc (Ban Giám đốc) quản lý (Điều 6 Luật Công ty TNHH).
Những công ty TNHH có trên hai nghìn lao động thì theo quy định tại Điều 33 của Luật Đồng quyết năm 1976, phải có ít nhất hai giám đốc. Giám đốc công ty TNHH bắt buộc phải là cá nhân có năng lực pháp luật đầy đủ, có thể là công dân Đức hoặc người nước ngoài. Những cá nhân đang hoặc đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không được làm giám đốc công ty TNHH trong thời hạn 5 năm kể từ khi có bản án kết tội của toà án. Những cá nhân bị toà án hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm hành nghề sẽ không được làm giám đốc của công ty TNHH hoạt động trong cùng ngành nghề bị cấm16. Các giám đốc có trách nhiệm phối hợp để cùng điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH trong các giao dịch với bên thứ ba và trong các quan hệ tố tụng. Việc phân chia quyền hạn và nhiệm vụ có thể giúp các giám đốc không phải chịu trách nhiệm liên đới về những hậu quả của hoạt động sai trái của người giám đốc khác, nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm vì đã không thực hiện được nghĩa vụ giám sát với đồng nghiệp của mình. Trong một số trường hợp, thẩm quyền đại diện theo pháp luật của các giám đốc có thể bị hạn chế theo quy định của điều lệ công ty hoặc theo quyết định của Ban Kiểm soát của công ty TNHH.
- Ban Kiểm soát: Có thể được thành lập theo ý chí của các thành viên khi thành lập công ty (Trong trường hợp này, số lượng thành viên, điều kiện trở thành thành viên Ban Kiểm soát do các thành viên công ty quyết định và được ghi nhận trong Điều lệ công ty) hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Luật Đồng quyết năm 1976, những công ty TNHH có trên hai nghìn lao động phải có Ban Kiểm soát (phải có đại diện Công đoàn hoặc đại diện người lao động tham gia Ban Kiểm soát). Đối với những công ty TNHH có trên năm trăm lao động nhưng có dưới hai nghìn lao động phải có Ban Kiểm soát theo quy định của Luật về sự Tham gia của bên thứ ba năm 2004. Tất cả những quy định về Ban Kiểm soát của Luật về sự Tham gia của bên thứ ba năm 2004 đều được áp dụng với Ban Kiểm soát của công ty TNHH có trên hai nghìn lao động. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai mô hình Ban Kiểm soát này là: chỉ Ban Kiểm soát ở công ty TNHH có trên hai nghìn lao động có quyền chỉ định và thay đổi giám đốc quản lý công ty.
Ngoài ra, theo quy định của Luật về sự Tham gia của bên thứ ba năm 2004, số lượng thành viên Ban Kiểm soát phải có ít nhất là ba (trong đó, một phần ba số lượng thành viên phải là đại diện do người lao động bầu ra, các thành viên còn lại là đại diện của thành viên công ty, do thành viên công ty bầu trong cuộc họp Hội đồng Thành viên). Theo quy định của Luật Đồng quyết năm 1976: Ban Kiểm soát của công ty có từ trên hai nghìn lao động đến mười nghìn lao động có mười hai thành viên; Ban Kiểm soát của công ty có từ trên mười nghìn lao động đến hai mươi nghìn lao động có mười sáu thành viên; Ban Kiểm soát của công ty có trên hai mươi nghìn lao động có hai mươi thành viên18. Theo quy định của pháp luật, Ban Kiểm soát có quyền giám sát hoạt động quản lý công ty của giám đốc công ty, kiểm tra các báo cáo tài chính của công ty, chỉ định kiểm toán viên, triệu tập và tham gia cuộc họp Hội đồng Thành viên nếu xét thấy cần thiết,…
Ngoài các mô hình công ty theo quy định của pháp luật công ty của CHLB Đức, từ năm 2004, mô hình công ty công châu Âu (Europäische Gesellschaft, SE) theo quy định của Đạo luật về công ty của Liên minh Châu Âu19 và Chỉ thị bổ sung Đạo luật về Công ty của Liên minh Châu Âu20 cũng có thể được thành lập và hoạt động kinh doanh tại CHLB Đức. Theo quy định của pháp luật Liên minh Châu Âu, các công ty công châu Âu phải được đăng ký thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước thành viên nơi công ty đó có trụ sở chính, nhưng tên của công ty đó phải kèm theo cụm từ “SE”.
Tại CHLB Đức, các công ty công châu Âu được điều chỉnh như một công ty cổ phần bởi Luật Công ty cổ phần. Là quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, các quy định của pháp luật công ty của CHLB Đức rất linh hoạt và chặt chẽ, không những bảo đảm nhu cầu quản lý nhà nước mà còn bảo vệ rất hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quá trình hoạt động của công ty cũng như sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Tài liệu tham khảo:
1.Tìm hiểu pháp luật công ty CHLB Đức - Ths. Trần Quỳnh Anh Đại học Luật Hà Nội;
2. Quản lý doanh nghiệp nhà nước ở CHLB Đức; Ts Trần Văn (Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách).