Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

1. Năng lực chịu trách nhiệm là gì?

Trong pháp luật dân sự, về nguyên tắc, một chủ thể pháp luật khi thực hiện hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với những tổn thất do mình gây ra cho người bị hại. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi xâm hại không có khả năng nhận thức nhất định về hành vi do mình thực hiện thì không phải chịu trách nhiệm BTTH. Khả năng nhận thức về hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được khoa học pháp lý luật dân sự gọi là: “Năng lực chịu trách nhiệm BTTH”. Như vậy, “năng lực chịu trách nhiệm” như một điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, và thông thường, nghĩa vụ lập chứng sẽ thuộc về bị đơn. Điều này có nghĩa rằng, khi bị đơn chứng minh mình không có năng lực chịu trách nhiệm thì không thể cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với bị đơn, cho dù tồn tại đầy đủ điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thiệt hại, lỗi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

2. Mối quan hệ giữa năng lực chịu trách nhiệm và chủ thể BTTH là người chưa thành niên

Điều 712 của Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân. Điều đó có nghĩa rằng, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi do mình thực hiện thì người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm BTTH thay thế của cha mẹ/người giám hộ.

Điều 828 của Bộ luật Dân sự Đức (BGB) quy định tại khoản 1: Người dưới 7 tuổi không phải chịu trách nhiệm về tổn thất gây ra cho người khác; tại khoản 2: Người trên 7 tuổi đến dưới 10 tuổi không phải chịu trách nhiệm về tổn thất gây ra cho người khác đối với các sự cố liên quan đến ô tô, đường sắt, đường điện hoặc tầu trên cao, trừ trường hợp người này gây ra việc xâm hại do cố ý; tại khoản 3: Người dưới 18 tuổi, giới hạn trong trường hợp không được loại bỏ trách nhiệm tại khoản 1, 2 không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho người khác khi những người này không có năng lực biện giải cần thiết để nhận thức về trách nhiệm khi thực hiện hành vi gây hại.

Có thể thấy rằng, pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức quy định rõ mối quan hệ giữa năng lực chịu trách nhiệm của người chưa thành niên đối với tổn thất do mình gây ra cho người khác, chỉ công nhận người chưa thành niên BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp người chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm. Còn sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật đó là: Pháp luật Đức mặc định trẻ dưới 7 tuổi không có năng lực chịu trách nhiệm. Mặt khác, trong một số trường hợp liên quan đến sự cố giao thông thì trẻ từ trên 7 tuổi đến dưới 10 tuổi được xem là không có năng lực chịu trách nhiệm. Còn đối với những trường hợp khác, việc có hay không năng lực chịu trách nhiệm dựa vào tiêu chí đánh giá người chưa thành niên có năng lực nhận thức về hành vi do mình thực hiện hay không?

3. Trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ về bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

3.1. Trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm

Như đã nêu ở trên, pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức đều ghi nhận trong trường hợp trẻ chưa thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm thực hiện hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì chủ thể chịu trách nhiệm BTTH là chủ thể thực hiện hành vi (trẻ chưa thành niên). Tuy nhiên, một vấn đề pháp lý đặt ra đó là: Trong trường hợp này người bị hại có thể đồng thời yêu cầu cha, mẹ/người giám hộ của người chưa thành niên BTTH đối với tổn thất do người chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm gây ra hay không? Vì trên thực tế, không thể phủ nhận việc tồn tại nghĩa vụ giám sát, giáo dục của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên, cùng với việc công nhận trách nhiệm BTTH của cha mẹ/người giám hộ trong trường hợp người thành niên có năng lực chịu trách nhiệm BTTH thì căn cứ pháp lý của trách nhiệm này được xác định ra sao? Bởi vì, trong lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử, chỉ khi xác định được căn cứ pháp lý mới có thể giải quyết được các vấn đề pháp lý xoay quanh như: (1) Điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH của cha mẹ trong trường hợp con chưa thành niên đủ năng lực chịu trách nhiệm thực hiện hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; (2) Cơ chế miễn trừ trách nhiệm; (3) Hậu quả pháp lý.

Án lệ hiện nay của Nhật Bản chỉ ra rằng, nếu muốn truy cứu trách nhiệm của cha, mẹ trong trường hợp con chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm thì chỉ có thể dựa trên căn cứ pháp lý là Điều 709 Bộ luật Dân sự Nhật Bản (quy định chung về BTTH ngoài hợp đồng). Do vậy, điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, cơ chế miễn trừ trách nhiệm, hậu quả pháp lý áp dụng đối với trách nhiệm BTTH của cha mẹ sẽ áp dụng theo quy định chung về BTTH ngoài hợp đồng mà không áp dụng quy định tại phần riêng về trách nhiệm của cha mẹ đối với hành vi do con chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm gây ra được quy định tại phần riêng (Điều 714). Cụ thể, trong các điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại, thiệt hại, lỗi, thì nhất thiết phải tồn tại điều kiện “quan hệ nhân quả” giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ giám sát, giáo dục của cha mẹ với thiệt hại do hành vi của con gây ra. Theo phán quyết của Toà tối cao Nhật Bản ngày 22/3/1974, cho dù con chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm, trong trường hợp nhận định có mối quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm nghĩa vụ của người giám sát theo quy định của pháp luật và hậu quả được sinh ra từ hành vi bất hợp pháp của người chưa thành niên thì vẫn được coi là có cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng dựa trên quy định tại Điều 709...). Bản chất pháp lý về trách nhiệm BTTH của cha mẹ trong trường hợp này được hiểu là trách nhiệm đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, chứ không phải là trách nhiệm thay thế, gánh chịu của cha mẹ đối với hành vi vi phạm của con chưa thành niên. Hiện nay, đề án sửa đổi Luật dân sự của Nhật Bản đang có chủ trương đưa thêm điều khoản điều chỉnh mối quan hệ giữa người chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm và cha mẹ với tư cách người có nghĩa vụ giám sát - mối quan hệ trách nhiệm BTTH giữa cha mẹ/người giám hộ và trẻ chưa thành niên được nhận định là trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho người thứ ba.

Khác với pháp luật Nhật Bản, pháp luật Đức khi luận bàn về trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ đối với thiệt hại do trẻ chưa thành niên có đủ năng lực trách nhiệm gây ra thống nhất quan điểm áp dụng chung quy định tại Điều 832 BGB - Điều khoản về trách nhiệm BTTH của người giám sát, mà không phân biệt người thực hiện hành vi xâm hại quyền và lợi ích của người khác là trẻ thành niên có năng lực chịu trách nhiệm hay không. Điều 832 BGB khẳng định, tồn tại nghĩa vụ của người giám sát, trong trường hợp trẻ chưa thành niên thực hiện hành vi xâm hại quyền và lợi ích của người khác, được hiểu là người giám sát đã vi phạm nghĩa vụ, mặc định đây là một loại trách nhiệm tự thân không phải trách nhiệm thay thế. Tuy vậy, đối với trường hợp trẻ chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm thì mối quan hệ giữa hai chủ thể gánh chịu trách nhiệm BTTH là trẻ chưa thành niên và cha mẹ/người giám hộ không được xác định rõ trong Luật BTTH của Đức. Như vậy, phải chăng trong trường hợp này cũng là mối quan hệ trách nhiệm liên đới.

Điểm tương đồng giữa hai hệ thống pháp luật Đức và Nhật Bản là, khi người chưa thành niên có năng lực chịu trách nhiệm thực hiện hành vi gây hại thì chủ thể gánh chịu trách nhiệm BTTH là trẻ chưa thành niên, song cũng không loại trừ khả năng có thể truy cứu trách nhiệm BTTH của cha mẹ/ người giám hộ theo luật định dưới cùng một bản chất pháp lý chung (trách nhiệm tự thân). Tuy nhiên, do cơ chế áp dụng điều khoản đối với trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ khác nhau nên điều kiện cấu thành trách nhiệm đối với chủ thể này cũng sẽ khác nhau. Cụ thể, pháp luật Nhật Bản áp dụng điều khoản chung về BTTH ngoài hợp đồng (Điều 709, Bộ luật Dân sự), do vậy điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH bao gồm yếu tố lỗi, và đối với điều kiện này, nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn. Trong khi đó, pháp luật Đức áp dụng theo Điều 832 BGB, điều khoản riêng về trách nhiệm của người giám sát theo luật định và điều kiện cấu thành cũng tồn tại yếu tố lỗi nhưng nghĩa vụ chứng minh được chuyển giao từ nguyên đơn sang bị đơn (thuyết suy đoán lỗi). Cụ thể, nguyên đơn không có nghĩa vụ chứng minh tồn tại yếu tố lỗi trong việc người giám sát theo luật định vi phạm nghĩa vụ, song trong trường hợp bị đơn (cha mẹ) chứng minh không tồn tại yếu tố lỗi trong việc giám sát con chưa thành niên không cấu thành trách nhiệm BTTH đối với cha mẹ.

3.2. Trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm

Điểm tương đồng giữa pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức: Trong trường hợp người chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm thì người chưa thành niên không phải gánh vác trách nhiệm BTTH. Căn cứ pháp lý đó là bảo vệ những người không có năng lực trí tuệ, nhận thức về trách nhiệm hành vi của bản thân mình. Tuy nhiên, quy định này sẽ dẫn tới hậu quả người bị thiệt hại do hành vi bất hợp pháp gây ra sẽ không được bù đắp tổn thất. Kéo theo đó, chức năng của pháp luật BTTH không được thực hiện. Đối với những trường hợp này, để hiện thực hoá chức năng bù đắp tổn thất của pháp luật BTTH ngoài hợp đồng, pháp luật Nhật Bản và pháp luật Đức đều công nhận, cha mẹ/người giám hộ của người chưa thành niên phải gánh chịu trách nhiệm BTTH đối với thiệt hại do hành vi của trẻ chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm gây ra và căn cứ pháp lý của trách nhiệm đó là việc vi phạm nghĩa vụ giám sát, giáo dục, định hướng của cha mẹ /người giám hộ đối với trẻ chưa thành niên với tư cách như một người giám sát theo luật định (Điều 714 Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Điều 832 BGB).

Liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm gây ra, có một vấn đề đặt ra, đó là “bản chất pháp lý” về trách nhiệm BTTH” của cha mẹ trong trường hợp này là trách nhiệm tự thân (self-liability) hay là trách nhiệm thay thế (Vicarious liability).

Khác với trách nhiệm tự thân, đặc điểm pháp lý của trách nhiệm BTTH thay thế đó là: thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, và chủ thể gánh chịu trách nhiệm BTTHNHĐ là hai chủ thể khác nhau (separate entities); thứ hai, giữa hai chủ này có một mối quan hệ đặc biệt như quan hệ đại diện, quan hệ giám hộ, quan hệ thuê lao động....

Điều kiện đối với trách nhiệm thay thế chỉ được cấu thành khi cấu thành trách nhiệm BTTH đối với con chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm. Trong trường hợp hành vi của con chưa thành niên không cấu thành trách nhiệm BTTH hoặc được miễn trách nhiệm BTTH trong các trường hợp như: Tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng,... thì đương nhiên không cấu thành trách nhiệm BTTH của cha, mẹ.

Về hành vi xâm hại do người chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm gây ra. Pháp luật Nhật Bản và Đức đều đưa ra tiêu chí đoán định có hay không năng lực chịu trách nhiệm của người chưa thành niên đó là có hay không được trang bị năng lực nhận thức về trách nhiệm hành vi của bản thân (Điều 712, Bộ luật Dân sự Nhật Bản; khoản 3 Điều 828 BGB). Đồng thời, nghĩa vụ chứng minh người thực hiện hành vi (trẻ chưa thành niên) không có năng lực chịu trách nhiệm thuộc về nguyên đơn, bên yêu cầu cha mẹ/người giám hộ người chưa thành niên BTTH.

Nếu nhận định bản chất pháp lý của phân loại trách nhiệm BTTH của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra là trách nhiệm thay thế thì phải tồn tại điều kiện: “Hành vi xâm hại của người chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm phải đáp ứng đầy đủ điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH”; còn nếu xem đây là phân loại trách nhiệm tự thân thì không nhất thiết tồn tại điều kiện có hay không cấu thành trách nhiệm BTTH đối với hành vi do trẻ chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm gây ra.

Toà tối cao Nhật Bản ngày 27/3/1962 đã đưa ra phán quyết phủ nhận trách nhiệm BTTH của cha mẹ với lý do hành vi của con chưa thành niên không phải hành vi bất hợp pháp dẫn tới hậu quả BTTH. Trên thực tiễn xét xử cho thấy: Án lệ phủ nhận trách nhiệm BTTH của cha mẹ hầu hết dựa trên lý do nhận định đó là dưới điều kiện khách quan không cấu thành hành vi bất hợp pháp của con chưa thành niên (Toà phúc thẩm Takamatsu ngày 10/11/1979). Mặt khác, dưới góc độ lý luận, các học giả cũng cho rằng, không bàn đến vấn đề nghĩa vụ giám sát của cha mẹ trong trường hợp không có tính vi phạm pháp luật của hành vi gây hại được thực hiện bởi trẻ chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm. Vì vậy, tương ứng với điều kiện như trên, có thể luận giải dưới góc nhìn học thuyết cũng như thực tiễn xét xử, Nhật Bản nhìn nhận trách nhiệm BTTH của cha mẹ đối với hành vi bất hợp pháp của con chưa thành niên là “trách nhiệm thay thế” – với mục đích thực hiện chức năng bù đắp kịp thời, đầy đủ cho người bị hại.

Với tư cách là trách nhiệm thay thế, giới học giả Nhật Bản đã có sự tranh luận về điều kiện lỗi trong cấu thành trách nhiệm của cha, mẹ khi con chưa thành niên không có năng lực chịu pháp luật gây ra. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, đây là loại trách nhiệm dựa trên lỗi và chuyển giao nghĩa vụ chứng minh lỗi (thuyết suy đoán lỗi). Song, thực tiễn xét xử cho thấy: Nếu hành vi của con chưa thành niên không có năng lực chịu trách nhiệm được xem là hành vi bất hợp pháp thì cha, mẹ phải BTTH đối với tổn thất do con gây ra và việc chứng minh của bị đơn (cha mẹ) về việc đã thực hiện nghĩa vụ giám sát đầy đủ (không có lỗi) để không cấu thành trách nhiệm BTTH hầu như rất khó. Do vậy, nhiều học giả cho rằng, dưới góc độ án lệ cho thấy trách nhiệm BTTH của cha, mẹ rất gần với trách nhiệm không lỗi. Về bản chất pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ, các học giả luật dân sự Nhật Bản cho rằng: một quy định không thể chấp nhận sự trộn lẫn của cả hai loại trách nhiệm với bản chất pháp lý khác nhau. Còn trên thực tiễn xét xử, pháp luật Nhật Bản nhìn nhận quy định trong Điều 714 với một vai trò là trách nhiệm thay thế, do vậy, về cơ bản, đây giống như loại trách nhiệm không dựa trên lỗi.

Tuy nhiên, án lệ của Toà tối cao ngày 9/4/2015, lần đầu tiên phủ nhận trách nhiệm BTTH của cha mẹ khi đưa ra lập luận cha, mẹ không vi phạm nghĩa vụ giám sát, giáo dục con chưa thành niên mà không dựa trên căn cứ hành vi của trẻ chưa thành niên có hay không đáp ứng điều kiện khách quan cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Có thể thấy, án lệ này đã đưa ra cách nhìn mới về bản chất pháp lý của trách nhiệm BTTH của cha, mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra. Qua đó, án lệ của Tòa án tối cao gần đây đã khẳng định rõ ràng đây là “trách nhiệm tự thân” khi án lệ không đề cập đến vấn đề có hay không hành vi vi phạm pháp luật của con chưa thành niên khi đánh giá trách nhiệm của cha mẹ dựa trên việc đoán định có hay không việc vi phạm nghĩa vụ giám sát, giáo dục.

Án lệ của Toà tối cao được xem ngày càng tiệm cận với quan điểm xét xử cũng như định hướng lý giải theo Điều 832 của Bộ luật Dân sự Đức (Trách nhiệm của người giám sát là trách nhiệm tự thân dựa trên lỗi suy đoán)[14].

Theo đó, trách nhiệm BTTH của cha mẹ/người giám hộ được phán đoán độc lập dựa trên việc có hay không hành vi vi phạm nghĩa vụ giám sát, không đơn thuần là trách nhiệm phái sinh, trách nhiệm thay thế, hay còn được gọi là trách nhiệm bảo lãnh chỉ phát sinh khi tồn tại trách nhiệm BTTH của trẻ chưa thành niên. Cách luận giải này được rất nhiều học giả tán thành khi cho rằng hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện đại khi quan hệ giữa người chăm sóc, giám sát và trẻ chưa thành niên đã có sự thay đổi nhất định. Ngày này việc giám sát trẻ chưa thành niên được xem cần thiết phải cân nhắc sao cho phù hợp với sự hoạt động đa dạng của trẻ trong đời sống hàng ngày. Đối với những hoạt động để khuyến khích sự phát triển sáng tạo, tăng khả năng độc lập, đôi khi còn những phạm vi thuộc về quyền riêng tư của trẻ không nên xem cha mẹ/người giám hộ có nghĩa vụ giám sát. Việc phán đoán có hay không nghĩa vụ giám sát nên được nhìn nhận từ chính bản chất hoạt động thực tiễn của trẻ. Bên cạnh đó, việc giới hạn loại trách nhiệm này sẽ có tác động lớn đến cha mẹ/người giám hộ trong việc tôn trọng sự độc lập của trẻ, qua đó góp phần khuyến khích trẻ phát triển khả năng tự lập. Trong bối cảnh xã hội có sự đa dạng hoá về quan hệ gia đình, hình thái mô hình gia đình cũng có sự thay đổi thì số lượng các vụ ly hôn, cha mẹ không chung sống cùng nhau, quan hệ cha con ngoài giá thú... ngày càng gia tăng. Do vậy, cho dù nói tồn tại quan hệ cha, mẹ và con nhưng nghĩa vụ giám sát cũng có những khác biệt nhất định. Hơn thế nữa, trong xã hội hiện đại, trẻ chưa thành niên ngày càng được đề cao, khuyến khích tính tự lập. Do đó, không thể phủ nhận cần thiết đặt ra sự giới hạn nghĩa vụ giám sát của cha mẹ. Nói cách khác, đặt ra tiêu chuẩn giám sát của cha mẹ đối với con một cách quá nghiêm khắc cũng không còn phù hợp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập