Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin trao đổi như sau:

 

1. Khái niệm phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu các sản phẩm sáng tạo trí tuệ thuộc lĩnh vức văn học, nghệ thuật, khoa học và các sản giải pháp kỹ thuật, các đối tượng được áp dụng vào sản xuất, kinh doanh thuộc quyền sở hữu công nghiệp. Tại phần khái niệm quyền sở hữu trí tuệ đã phần tích, quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản, do vậy các sản phẩm của quyền sở hữu trí tuệ là tài sản. Cũng tương tự như các loại tài sản hữu hình khác, tài sản trí tuệ cũng thường bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật, cho nên pháp luật quy định về các phương thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền của các chủ thể sáng tạo, chủ sở hữu, và quyền của người sử dụng hợp pháp các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu, của tác giả, của chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp các tài sản trí tuệ.

Các biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số 07/VBHN-VPQH năm 2019):

 

1.1 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm: 

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất đa dạng, việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất phức tạp, vì vậy không phải khi nào hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng bị phát hiện. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sao chép tác phẩm trái phép, không trả nhuận bút hoặc thù lao cho tác giả khi sử dụng tác phẩm của tác giả vào káh doanh, chiếm đoạt tác phẩm, sửa chữa tác phẩm... Với các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, thì tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, chủ sở hữu quyền liên quan tự mình có quyền yêu cầu người xâm phạm buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm. Hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp như gắn nhin hiệu chủ thể được bảo hộ lên hàng giả, hàng nhái; xâm phạm kiểu dáng công nghiệp, vi phạm chỉ dẫn địa lý, sử dụng tên thương mại của chủ thể để kinh doanh... thì chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp có quyền tự mình buộc người xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm.

 

1.2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai: 

Tác giả, chủ thể của quyền liên quan, chủ Bằng bảo hộ, tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí... chủ thể kinh doanh có quyền buộc người xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải xin lỗi, cải chính công khai trực tiếp hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên báo chí, hệ thống phát thanh, truyền hình và phải chấm dứt hành vi xâm phạm.

 

1.3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự: 

Chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ, có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán các khoản tiền phát sinh từ việc sử dụng các sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ hay phải khai thác các sản phẩm của quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi thỏa thuận hoặc luật định hoặc phải bồi thường thiệt hại do có hành vi vi phạm hợp đồng khai thác, sử dụng các sản phẩm trí tuệ của chủ thể.

 

1.4 Buộc bồi thường thiệt hại: 

Chủ sở hữu trí tuệ có quyền buộc người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể mà gây thiệt hại về tài sản theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng.

 

1.5  Buộc tiêu hủy

Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

 

2. Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự

a)    Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và theo quy định tại Điều 203 Luật SHTT.

b)    Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:

-     Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, Bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;

-     Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng;

-     Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.

c)   Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong các trường hợp sau đây:

-   Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ là sản phẩm mới;

-   Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng.

-   Trong trường hợp một bên trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có quyền yêu cầu Toà án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó.

-   Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật này.

 

3. Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

a)   Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại.

b)   Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.

Mức độ thiệt hại được xác định frên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.

 

4. Căn cứ xác đỉnh mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

a)   Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;

b)   Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;

c)    Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại.

 

5.    Quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây:

a)    Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

b)    Hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu hủy nếu không được bảo vệ kịp thời.

Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này trước khi nghe ý kiến của bên bị áp dụng biện pháp đó.

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định:

“1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này"

Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự, tại khoản 10-17 quy định:

“Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ và tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động liên quan đến việc đấu thầu; Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án; Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định”) để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó. 3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này”.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó:

a)    Thu giữ;

b)     Kê biên;

c)     Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;

d)     Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại Điều 208 Luật Sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 206 của Luật này bằng các tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật này.

Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện pháp đó trong trường hợp người đó không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây: Khoản tiền bằng 20% giá trị hàng hóa cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị hàng hóa đó. Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 209 Luật Sở hữu trí tuệ. Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng dân sự và trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chứng minh được việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không có căn cứ xác đáng.

Trong trường hợp hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án phải xem xét để trả lại cho người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khoản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 208 của Luật này[13]. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không có căn cứ xác đáng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án buộc người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại.

Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 210).

 

6. Xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

a) Nguyên tắc xác định thiệt hại

Thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là thiệt hại thực tế gồm:

Thứ nhất, lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hạt

Thứ hai, người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích quy định tại điểm a khoản này;

Thứ ba, có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

Mức độ thiệt hại được xác định phù hợp với yếu tố xâm phạm quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Việc xác định mức độ thiệt hại dựa trên chứng cứ về thiệt hại do các bên cung cấp, kể cả kết quả trưng cầu giám định và bản kê khai thiệt hại, trong đó làm rõ các căn cứ để xác định và tính toán mức thiệt hại.

 

b) Tổn thất về tài sản: 

Tổn thất về tài sản được xác định theo mức độ giảm sút hoặc bị mất về giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ.

Giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo một hoặc các căn cứ sau đây:

Thứ nhất, giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, giá trị góp vốn kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong tổng số tài sản của doanh nghiệp.

Thứ tư, giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các chi phí tiếp thị, nghiên cứu, quảng cáo, lao động, thuế và các chi phí khác.

 

c) Giảm sút về thu nhập, lợi nhuận

Thu nhập, lợi nhuận quy đ|nh tại điểm a khoản 1 Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: Thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Những thu nhập, lợi nhuận thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận được xác định theo một hoặc các căn cứ: So sánh trực tiếp mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm, tương ứng.

So sánh sản lượng, số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thực tế tiêu thụ hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm. Giá bán thực tế ưên thị trường của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm.

 

d)  Tổn thất về cơ hội kinh doanh: 

Cơ hội kinh doanh quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

- Khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh.

-   Khả năng thực tế cho người khác thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

-   Khả năng thực tế chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho người khác;

-   Cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra.

Tổn thất về cơ hội kinh doanh là thiệt hại về giá trị tính được thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả năng của mình nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra.

Thiệt hại còn là những chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại như: Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ gồm chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hóa xâm phạm, chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm và chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm.

 

7. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lựi của người tiêu dùng

Theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015: 

“Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới có hai nhóm chính.

Nhóm thứ nhất, không ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng. Các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng không tập trung trong một văn bản nhất định, mà được quy định không tập trung tại các văn bản pháp luật khác nhau.

Nhóm thứ hai, những quốc gia ban hành các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Cộng hòa Pháp, Hổng Kông, Ấn Độ, Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Vương quốc Anh.

Tại Hoa Kỳ, từ thập niên 1960 - 1970, hàng loạt đạo luật được ban hành: Luật Liên bang về chất lượng nguy hại, 1960; Luật về đóng gói và ghi nhận công bằng, 1966; Luật về Tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất đông sản Liên bang năm 1968; Luật Bảo đảm an toàn đồ chơi trẻ em năm 1969; Luật An toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972...

Cùng giai đoạn này, Nhật Bản ban hành Luật Cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng năm 1968; Austrailia có Luật về Các hành vi thương mại năm 1974; Vương quốc Anh có Luật Thuê năm 1964; Luật về Thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967; Luật Mô tả thương mại năm 1968; Luật về Cung ứng hàng hóa, dịch vụ năm 1971; Luật Thương mại công bằng năm 1973; Luật An toàn tiêu dùng năm 1978...

Về người tiêu dùng, trên thế giới có hai hệ thống khái niệm.

Hệ thống khái niệm thứ nhất, chỉ quy định người tiêu dùng là cá nhân (Luật châu Âu và Luật Quebec). Họ quan niệm rằng, pháp nhân có nhiều lợi thế hơn cá nhân, cho nên pháp luật không can thiệp;

Hệ thống khái niệm thứ hai, người tiêu dùng gồm cá nhân và pháp nhân, liên quan đến lợi ích chung của toàn xã hội.

Về quyền của người tiêu dùng, ngày 09 tháng 04 năm 1985, dưới sự tác động của Tổ chức quốc tế liên minh NTD (Quốc tế NTD), Liên hợp quốc thông qua tập hợp các nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng trên toàn thế giới trong việc ban hành luật hay chính sách pháp lý bảo vệ người tiêu dùng tại các quốc gia thành viên, gồm: Quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản; Quyền được an toàn; Quyền được lựa chọn; Quyền được thông tin; Quyền được giáo dục tiêu dùng; Quyền được giải quyết và bồi thường thiệt hại; Quyền được đại diện; Quyền được hưởng một môi trường lành mạnh.

Các quốc gia là thành viên của Đại Hội đồng Liên hợp quốc áp dụng các nguyên tắc cơ bản ở các mức độ khác nhau. Nhóm thứ nhất chỉ nêu vắn tắt các nguyên tắc cơ bản này như Cộng hòa Liên bang Nga, Thái Lan; nhóm thứ hai nêu chi tiết các nguyên tắc cơ bản trên như Trung Quốc.

Lợi ích người tiêu dùng luôn luôn được pháp luật của các nước bảo vệ.

Tiêu dùng được hiểu là cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch để có tài sản, hàng hóa, dịch vụ và có được tài sản, hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.

Hàng hóa, dich vụ thể hiện dưới dạng vật chất hay phi vật chất. Người tiêu dùng được hiểu là người mua, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân, gia đình, tổ chức.

Điều 608 BLDS năm 2015, quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng: “Cá nhân, pháp nhân sản xất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiêt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.

Theo quy định này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng phát sinh từ những giao dịch hợp pháp và mang tính chất tài sản. Quyền lợi của người tiêu dùng không những bị thiệt hại về tài sản do hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng là hành vi trái pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng là trách nhiệm dân sự, người có hành vi vi phạm phải bồi thường. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng được xác định:

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra cho người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể là chủ thể tham gia giao dịch mua bán sản phẩm, dịch vụ với nhà sản xuất, nhà phân phối bán lẻ, nhà cung ứng dịch vụ. Người tiêu dùng không phải là chủ thể giao dịch, nhưng là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung ứng dịch vụ.

Thứ hai, hàng hóa có khuyết tật do thiết kế, sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; hàng hóa tiềm ẩn các nguy cơ gây mất an toàn khi sử dụng, nhưng không được nhà sản xuất, nhà phân phối hướng dẫn hoặc người bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ xuất xứ, không có nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu thật được gắn trên sản phẩm giả, lừa dối người tiêu dùng.

Thứ ba, hành vi sản xuất hàng giả, kém chất lượng, hàng hóa tiểm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi sử dụng, vận chuyển; hành vi cung cấp hàng giả là hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người tiêu dùng có mối quan hệ nhân quả.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng là trách nhiệm dân sự không cần điều kiện lỗi. Nhà sản xuất, người phân phối hàng hóa, người cung ứng dịch vụ cung cấp các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng gày thiêt hại cho người tiêu dùng cho dù có lỗi hay không có lỗi đều phải bồi thường khi hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, cung cấp gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng dựa trên các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, hành vi của các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ;

Thứ hai, hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Thứ ba, hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ là hành vi trái pháp luật.

Thiệt hại do hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây ra cho người tiêu dùng cũng là nững thiệt hại phổ biến về tài sản, sức khỏe, tính mạng, môi trường... Vì vậy, tương ứng với mỗi loại thiệt hại thì xác định thiệt hại, xác định chủ thể phải bồi thường thiêt hại, chủ thể được bồi thường thiệt hại, thời hạn bồi thường thiệt hại trong trường hợp sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng bị xâm phạm khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ của chủ thể sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc chủ thể phân phối, bán lẻ hàng hóa. Căn cứ vào từng quan hệ cụ thể để xác định thiệt hại về tài sản, thiệt hại vế sức khỏe, thiệt hại về tính mạng. Đặc biệt, thiệt hại về sức khỏe của chủ thể do sử dụng hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng, phổ biến là lương thực, thực phẩm, dược liệu, vật phẩm tiêu dùng khác như mỹ phẩm, đổ chơi trẻ em...

Nếu hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiêt hại về sức khỏe cho người tiêu dùng, thì cách xác định thiệt hại về sức khỏe cũng áp dụng như hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại. Nếu thiệt hại về tính mạng thì cũng áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm do hành vi trái pháp luật gây ra, bao gồm cả khoản tiền bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất
lượng gây ra, trong trường hợp người tiêu dùng bị thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.