- 1. Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên
- 1.1 Chủ tịch công ty
- 1.2 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (gọi tắt là Giám đốc)
- 1.3 Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc (gọi tắt là Phó giám đốc)
- 1.4 Kiểm soát viên
- 2. Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên
- 2.1 Hội đồng thành viên
- 2.2 Ban kiểm soát
- 2.3 Tổng giám đốc
- 3. Cơ quan, cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước
- 3.1 Chính phủ
- 3.2 Thủ tướng Chính phủ
- 3.3 Cơ quan đại diện chủ sở hữu
- 3.4 Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước
- 4. Quy định về cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý theo loại hình công ty TNHH một thành viên nhưng có một số điểm “đặc thù” phù hợp các nguyên tắc quản trị công ty mà chủ sở hữu là nhà nước, đảm bảo người đại diện trực tiếp cho chủ sở hữu nhà nước và những người quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước mang tính chuyên trách và chuyên nghiệp đồng thời chịu sự giám sát, quản lý của nhà nước.
1. Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên
Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên có cơ cấu quản lý gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên.
1.1 Chủ tịch công ty
Chủ tịch công ty là người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp, được cơ quan đại diện chủ sở hữu (bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh) bổ nhiệm để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.
Người được bổ nhiệm giữ chức danh Chủ tịch công ty phải đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện sau:
- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp;
- Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Ke toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty;
- Không là cán bộ, công chức, viên chức; không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Giám đốc tại tập đoàn, tổng công ty, công ty mình và các doanh nghiệp khác; Không được kiêm nhiệm các chức danh quản lý, điều hành ở tổng công ty, công ty thành viên (Điều 8 Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức đanh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ);
- Chưa từng bị cách chức Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước;
- Các tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
Chủ tịch công ty có nhiệm kì không quá 05 năm. Chủ tịch công ty có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kì yà có thể bị miễn nhiệm, cách chức trong các trường hợp theo quy định của pháp luật.
Thực hiện chức năng người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước, Chủ tịch công ty có các quyền và trách nhiệm tập trung thành các nhóm sau:
Thứ nhất, đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định việc điều chỉnh vốn điều lệ; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Thứ hai, có quyền quyết định sau khi cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt về các nội dung: Chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc; Huy động vốn, đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định, dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; Góp vốn, tăng, giảm vốn góp, chuyển nhượng vốn đầu tư của dọanh nghiệp đầu tư tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; Tiếp nhận công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính; phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ hằng năm của doanh nghiệp.
Chủ tịch công ty chịu trách nhiệm trước cơ quan đại diện chủ sở hữu trong quản lý, sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn; báo cáo kịp thời cơ quan đại diện chủ sở hữu khi doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không bảo đảm khả năng thạnh toán, không hoàn thành nhiệm vụ được giao và những trường hợp sai phạm khác; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về vi phạm gây tổn thất vốn, tài sản của doanh nghiệp.
Thứ ba, tự quyết định về các nội dung: Quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp; Tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật, tiền lương, thụ lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc, Kế toán trưởng; Quyết định hoặc ủy quyền cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định thuộc thẩm quyền; Chủ tịch công ty quản lý, điều hành doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu; Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc; Quyết định kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ của công ty; Tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ của công ty.
Ngoài những quyền và trách nhiệm trên, Chủ tịch công ty thực hiện trách nhiệm khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Điều lệ doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Các quyết định của Chủ tịch công ty phải đuợc lập thành văn bản. Trường hợp Chủ tịch công ty vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch công ty; Việc ủy quyền phải được thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Các trường hợp ủy quyền khác thực hiện theo quy định tại quy chế quản lý nội bộ của công ty.
Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch công ty tổ chức việc lấy ý kiến các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước trước khi quyết định các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty. Chi phí lấy ý kiến chuyên gia tư vấn được quy định tại quy chế quản lý tài chính của công ty.
1.2 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (gọi tắt là Giám đốc)
Giám đốc là người điều hành cao nhất trong công ty và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của công ty. Giám đốc do Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.
Với chức năng là người điều hành công ty, giám đốc phải có năng lực trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty, không thuộc các trường hợp bị cấm và có các tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty (Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2014, hiện nay áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020).
Giám đốc được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng theo thời hạn không quá 05 năm. Giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ tịch công ty về việc thực hiện các quyền, nhiệm vụ được giao. Giám đốc có thể bị miễn nhiệm hoặc cách chức trong các trường hợp được pháp luật quy định.
Giám đốc có các quyền và nghĩa vụ chủ yếu là: Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, phương án kinh doanh, kế hoạch đầu tư của công ty; Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện các nghị quyết của Chủ tịch công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty; Quyết định các công việc hằng ngày của công ty; Ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty đã được Chủ tịch công ty chấp thuận; Ký hợp đồng, thỏa thuận nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty; Bổ nhiệm, thuê, miễn nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng đối với các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty; Tuyển dụng lao động; Lập và trình Chủ tịch công ty báo cáo định ki hằng quý, hằng năm về kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch kinh doanh và báo cáo tài chính hằng năm; Kiến nghị phương án tổ chức lại công ty, khi xét thấy cần thiết; Kiến nghị phân bổ và sử dụng lợi nhuận sau thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty.
1.3 Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc (gọi tắt là Phó giám đốc)
Công ty có một hoặc một số Phó giám đốc. số lượng Phó giám đốc quy định tại Điều lệ công ty. Chủ tịch công ty quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Phó giám đốc. Quyền và nghĩa vụ của Phó giám đốc quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng lao động.
Các Phó giám đốc giúp Giám đốc điều hành công ty theo phân công và sự uỷ quyền của Giám đốc, chịu ưách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền.
1.4 Kiểm soát viên
Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm soát viên. Nhiệm kì của Kiểm soát viên là 03 năm và được bổ nhiệm lại nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm Kiểm soát viên của một công ty không quá 02 nhiệm kì. Tiền lương, thưởng của Kiểm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chi trả.
Với chức năng giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát, giám sát toàn diện các hoạt động của công ty, Kiểm soát viên được Luật Doanh nghiệp quy định có các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và có thể bị miễn nhiệm, cách chức nếu không hoàn thành nhiệm vụ.1 Kiểm soát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm và không thuộc đối tượng bị cấm (Điều 103, 104, 106, 107 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
2. Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên
Mô hình doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên tồn tại ở những doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn như công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Ngoài ra, các công ty độc lập không thuộc cơ cấu công ty mẹ - công ty con có thể tổ chức theo mô hình có Hội đồng thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Cơ cấu quản lý của doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên gồm: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên.
2.1 Hội đồng thành viên
Hội đồng thành viên thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của công ty và là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, có quyền nhân danh doanh nghiệp để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của doanh nghiệp.
Để thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của công ty với tư cách là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại công ty, Hội đồng thành viên có nhiệm vụ, quyền hạn tương tự Chủ tịch công ty (đã trình bày ở phần trên). Hội đồng thành viên được trực tiếp quyết định một số vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty còn một số vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu, Hội đồng thành viên chỉ có quyền kiến nghị để cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty xem xét, quyết định.
Hội đồng thành viên bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, số lượng không quá 07 người. Thành viên Hội đồng thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách và do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc khen thưởng, kỉ luật. Nhiệm kì của Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng thành viên không quá 05 năm. Thành viên Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại nhưng chỉ được bổ nhiệm làm thảnh viên Hội đồng thành viên của một công ty không quá 02 nhiệm kì.
Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên tương tự tiêu chuẩn và điều kiện của Chủ tịch công ty (đã trình bày ở phần trên - Điều 92 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Đứng đầu Hội đồng thành viên là Chủ tịch Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty của công ty mình và các doanh nghiệp khác.
Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền và nghĩa vụ: Xây dựng kế hoạch hoạt động hằng quý và hằng năm của Hội đồng thành viên; Chuẩn bị chương trình, tài liệu cuộc họp hoặc lấy ý kiến Hội đồng thành viên; Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc lấy ý kiến các thành viên Hội đồng thành viên; Tổ chức thực hiện các nghị quyết của cơ quan đại diện chủ sở hữu và nghị quyết Hội đồng thành viên; Tổ chức giám sát, trực tiếp giám sát và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chiến lược, kết quả hoạt động của công ty, kết quả quản lý điều hành của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty; Tổ chức công bố, công khai thông tin về công ty theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, chính xác, trung thực và tính hệ thống của thông tin được công bố; Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty.
Các thành viên khác của Hội đồng thành viên có các quyền và nghĩa vụ: Tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên; Kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm, sổ biên bản họp Hội đồng thành viên, các giấy tờ và tài liệu khác của công ty; Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ nêu trên, Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên bị ràng buộc các trách nhiệm như: Tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của chủ sở hữu công ty; Thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm tối đa lợi ích hợp pháp của công ty và Nhà nước. Trung thành với lợi ích của công ty và Nhà nước; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ, tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; Thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về các doanh nghiệp mà mình và người có liên quan làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần vốn góp.
Thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty; Chấp hành các nghị quyết của Hội đồng thành viên; Chịu trách nhiệm cá nhân khi lợi dụng danh nghĩa công ty thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn khi có nguy cơ rủi ro tài chính có thể xảy ra đối với công ty; Trường hợp phát hiện thành viên Hội đồng thành viên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao thì thành viên khác của Hội đồng thành viên có nghĩa vụ báo cáo bằng văn bản với cơ quan đại diện chủ sở hữu; yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả (Điều 96 Luật Doanh nghiệp năm 2014);
Hội đồng thành viên làm việc theo chế độ tập thể: Mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên đều được xem xét và quyết định theo đa số tại cuộc họp của Hội đồng thành viên hoặc lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản. Hội đồng thành viên phải họp ít nhất mỗi quý một lần để xem xét và quyết định những vấn đề thuộc quyền hạn, nhiệm vụ của mình. Đối với những vấn đề không cần thảo luận thì Hội đồng thành viên có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản. Hội đồng thành viên có thể họp bất thường để giải quyết các vấn đề cấp bách của công ty theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty hoặc theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc trên 50% tổng số thành viên Hội đồng thành viên đề nghị.
Các cuộc họp lấy ý kiến các thành viên Hội đồng thành viên chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên tham dự biểu quyết tán thành, trường hợp số phiếu ngang nhau thì nội dung có số phiếu tán thành của Hội đồng thành viên hoặc người được Chủ tịch Hội đồng thành viên ủy quyền chủ trì cuộc họp là nội dung được thông qua. Thành viên Hội đồng thành viên có quyền bảo lưu ý kiến của mình và kiến nghị lên cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty. Trường hợp lấy ý kiến các thành viên Hội đồng thành viên bằng văn bản thì nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua khi có hơn một nửa tổng số thành viên tán thành.
2.2 Ban kiểm soát
Để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu thạnh lập Ban kiểm soát gồm từ 03 đến 05 Kiểm soát viên. Trưởng ban kiểm soát làm việc chuyên trách tại công ty, các thành viên khác có thể tham gia Ban kiểm soát của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Tiêu chuẩn, điều kiện, quyền, trách nhiệm của Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên hoàn toàn giống với công ty không có Hội đồng thành viên được quy định tại Điêu 103, 104, 106 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Ban kiểm soát làm việc theo chế độ tập thể, họp ít nhất mỗi tháng một lần để rà soát, đánh giá thông qua báo cáo kết quả kiểm soát trong tháng trình cơ quan đại diện chủ sở hữu. Quyết định của Ban kiểm soát được thông qua khi có đa số thành viên dự họp tán thành. Các ý kiến khác với nội dung quyết định đã được thông qua phải được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu.
2.3 Tổng giám đốc
Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên do Hội đồng thành viên bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.
Tổng giám đốc có tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ giống với Giám đốc công ty không có Hội đồng thành viên.
Theo Điều 22 Nghị định số 69/2014/NĐ-CP về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước, người đại diện theo pháp luật của công ty mẹ là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Tổng gỉám đốc quy định tại Điều lệ công ty. Ví dụ, người đại diện theo pháp luật của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (công ty mẹ trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) là Tổng giám đốc theo quy định tại Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 149/2013/NĐ-CP ngày 31/10/2013 của Chính phủ.
Đối với doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là Chủ tịch công ty nếu điều lệ doanh nghiệp không quy định khác (khoản 2 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
3. Cơ quan, cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước, tuy nhiên, Nhà nước là một phạm trù rất trìu tượng, bởi vậy, cần phải có quy định phân định về chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đã bắt đầu có sự phân định cho Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược, kế hoạch nhân sự và các vấn đề vượt thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước. Chức năng chủ sở hữu nhà nước được phân định rõ hom cho Chính phủ/Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, UBND cấp tỉnh trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước và Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005. Kể từ ngày 01/7/2006 Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần. Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 xác định chủ sở hữu và phân công phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Ngày 15/11/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước chưa được luật hoá và chưa hoàn toàn rõ ràng, cụ thể.
Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 đã phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và các cá nhân là đại diện chủ sở hữu nhà nước trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước trong việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và giám sát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo đó, đại diện chủ sở hữu nhà nước bao gồm:
3.1 Chính phủ
Theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước thông qua các quyền, trách nhiệm sau:
- Quy định hình thức, nội dung, trình tự, thủ tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
- Ban hành điều lệ, sửa đổi, bổ sung điều lệ đối với doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
- Quy định việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp, bao gồm: phương thức xác định vốn điều lệ; huy động vốn; đầu tư, xây dựng, mua, bán, quản lý, sử dụng tài sản cố định; quản lý nợ phải thu, nợ phải trả; đầu tư, chuyển nhượng vốn ra ngoài doanh nghiệp; phân phối lợi nhuận sau thuế, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp; bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp; thẩm quyền ban hành quy che tài chính của doanh nghiệp nhà nước;
- Quy định tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ được giao, kết quả hoạt động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên; quy định việc giám sát, kiểm ha hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; quy định việc công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp;
- Quy định về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật của người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên (Người quản lý doanh nghiệp nhà nước là người giữ chức danh, chức vụ tại công ty TNHH một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kê toán trưởng và chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước theo quy định tại Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015. Nghị định này quy định về thẩm quyền quyết định, thẩm định; kiêm nhiệm; đánh giá, bồi dưỡng kiến thức; quy hoạch; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại; từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển; khen thưởng, ki luật; thôi việc, nghỉ hưu và quản lý hồ sơ đối với người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp nhà nước);
- Quy định về chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên;
- Quy định quy chế hoạt động của Kiểm soát viên;
- Quy định chế độ tuyển dụng, tiền lương, tiền thưởng và các quyền lợi khác của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động;
- Báo cáo Quốc hội tại kì họp cuối năm về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp của năm trước trong phạm vi toàn quốc.
3.2 Thủ tướng Chính phủ
Điều 41 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền, trách nhiệm sau:
- Quyết định đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp trong các trường hợp: Doanh nghiệp có tài sản hoạt động sản xuất, kinh doanh được hình thành từ việc thực hiện dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước và doanh nghiệp cố chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; Doanh nghiệp thực hiện dự án có tiêu chí tương đương với dự án quan trọng quốc gia, sau khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư;
- Quyết định những vấn đề sau đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập:
+ Tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu và sắp xếp lại doanh nghiệp;
+ Quyết định vốn điều lệ khi thành lập và điều chỉnh vón điều lệ trong quá trình hoạt động;
+ Phê duyệt chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển và kế hoạch sản xuất, kinh doanh 05 năm của doanh nghiệp;
+ Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật Chủ tịch Hội đồng thành viên.
- Phê duyệt đề án thành lập doanh nghiệp, đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập;
- Quyết định chủ trương chuyển giao vốn nhà nước tại doanh nghiệp giữa các cơ quan đại diện chủ sở hữu, giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.
3.3 Cơ quan đại diện chủ sở hữu
Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là Bộ quản lý ngành), UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý.
Quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, gồm:
- Quyết định đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhà nước (trừ những doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ);
- Đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập, cơ quan đại diện chủ sở hữu có quyền quyết định việc: Tổ chức lại, chuyên đổi sở hữu, giải thể, phá sản; chuyển giao vốn nhà nước tại doanh nghiệp giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương; Ban hành điều lệ, sửa đổi, bổ sung điều lệ; quyết định, điều chỉnh vốn điều lệ; Phê duyệt chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước; quyết định quỹ tiền lương, thù lao hằng năm của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên; Phê duyệt đề nghị của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp; Phê duyệt phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định, dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; Cấp vốn để thực hiện việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Quyết định việc chuyển nhượng vốn đầu tư của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên trong trường hợp giá trị chuyển nhượng thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã bù trừ dự phòng tổn thất vốn đầu tư; Quyết định chủ trương góp vốn, tăng, giảm vốn góp, chuyên nhượng vốn đầu tư của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; quyết định chủ trương tiếp nhận công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp; Phê duyệt báo cáo tài chính, phương án phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ hằng năm của doanh nghiệp; Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển, việc tuyển dụng lao động, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp; Có ý kiến về việc giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền đối với hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Đánh giá kết quả hoạt động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; Đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên.
3.4 Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước
Một trong những nguyên tắc đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp là việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp. Các cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm vào Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 đã quy định rõ quyền, trách nhiệm cũng như tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Theo đó, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty thực hiện quyền, ttách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp thông qua các công việc sau:
- Đề nghị cấp có thẩm quyền (Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu) quyết định việc điều chỉnh vốn điều lệ; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể, phá sản doanh nghiệp; Hội đồng thành viên đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khẹn thưởng, kỉ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên.
- Quyết định sau khi cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt về các nội dung sau: Chiến lược, ké hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc; Huy động vốn, đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định, dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; Góp vốn, tăng, giảm vốn góp, chuyển nhượng vốn đầu tư của doanh nghiệp đầu tư tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên ttở lên; Tiếp nhận công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên ưở lên thành công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính; phân phối lợi nhuận, trích lập cảc quỹ hằng năm của doanh nghiệp.
- Tự quyết định các nội dung sau: Quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp; Tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác đối với Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, các chức danh khác do Hội đồng thành viên bổ nhiệm; Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỉ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Phó Tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc, Ke toán trưởng; Quyết định hoặc ủy quyền cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản co định thuộc thẩm quyền.
- Quản lý, điều hành doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
- Chịu hách nhiệm trước cơ quan đại diện chủ sở hữu trong quản lý, sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn; báo cáo kịp thời cơ quan đại diện chủ sở hữu khi doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không bảo đảm khả năng thanh toán, không hoàn thành nhiệm vụ được giao và những trường hợp sai phạm khác.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về vi phạm gây tổn thất vốn, tài sản của doanh nghiệp.
- Hội đồng thành viên, Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty thực hiện quyền, hách nhiệm khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Điều lệ doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Quy định về cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước
Sau khi Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 được ban hành, quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo quy định tại Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 ban hành Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước và Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ. Giai đoạn này, việc sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư vốn thành lập mới doanh nghiệp nhà nước hoặc bổ sung vốn cho doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo hình thức cấp bổ sung vốn lưu động. Việc cấp bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp nhà nước trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc cấp từ các khoản thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước để lại cho doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước trong thời kì này thực hiện nộp tiền thu sử dụng vốn về ngân sách nhà nước là 5% từ lợi nhuận sau thuế.
Sau khi Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 có hiệu lực, Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác kèm theo Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004. Quá trình thực hiện có những bất cập, hạn chế, nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn như một số tổng công ty nhà nước đã huy động vốn để sản xuất kinh doanh gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu hoặc vốn điều lệ; đầu tư dàn trải vào những lĩnh vực ngành nghề không thuộc lĩnh vực kinh doanh chính, người đại diện vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa làm đúng, đủ ttách nhiệm,... Vì vậy, sau 04 năm thực hiện Quy chế quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 thay thế Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004. Theo quy định tại Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ, việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp cor bản được thay đổi theo hướng doanh nghiệp nhà nước được quyền chủ động sử dụng vốn nhà nước giao để đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; chịu trách nhiệm về bảo toàn, phát triển vốn, hiệu quả sử dụng vốn; được quyền quyết định hợp đồng vay vốn có giá trị lớn bằng 3 lần vốn điều lệ; được quyền sử dụng vốn, tài sản thuộc quyền quản lý của công ty để đầu tư ra ngoài theo quy định của pháp luật; Công ty nhà nước phải sử dụng tối thiểu 70% tổng nguồn vốn đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành nghề kinh doanh chỉnh của công ty. Tổng mức đầu tư ra ngoài công ty nhà nước (bao gồm đầu tư ngắn hạn và dài hạn) không vượt quá mức vốn điều lệ. Đối với hoạt động đầu tư góp vốn vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, công ty nhà nước chỉ được đầu tư vào mỗi lĩnh vực một doanh nghiệp; mức vốn đầu tư không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức nhận góp vốn; mức vốn góp của công ty mẹ và các công ty con trong tổng công ty, tập đoàn không vượt quá mức 30% vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp. Trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; Phân phối lợi nhuận được gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả xếp loại doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có đặc thù về cơ cấu vốn được điều chỉnh bổ sung cơ chế phân phối lợi nhuận. Tuy nhiên, một số quy định trong quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu như: vấn đề về vốn điều lệ; việc huy động vốn; đầu tư ra ngoài, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực nhạy cảm (chứng khoán, bất động sản, tài chính ngân hàng, bảo hiểm); phân phối lợi nhuận sau thuế... cũng bộc lộ những bất cập.
Khắc phục những hạn chế về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp trong Nghị định số 09/2009/NĐ-CP, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 của Chính phủ có những nội dung cơ bản và những điểm mới so với các quy định trước đây như:
- Quy định về “Nguyên tắc, hình thức, điều kiện và thẩm quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp”. Trong đó, đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp để tạo ra ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; đảm bảo phục vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng giai đoạn;
- Quy định về “Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác”: Trước đây, vốn nhà nước không chỉ quy định có tại các công ty nhà nước (nay là công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ), mà vốn nhà nước còn quy định đến tận các công ty con, công ty liên kết hoặc có thể đến tận “công ty cháu” của công ty mẹ. Nghị định số 71/2013/NĐ-CP đã quy định vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác là vốn do Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh trực tiếp là chủ sở hữu đầu tư tại doanh nghiệp khác; còn vốn của doanh nghiệp đầu tư vào công ty con, công ty liên kết gọi là vốn của doanh nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp khác.
- Quy định về “Huy động vốn” của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã có nhiều thay đổi. Trước đây, các doanh nghiệp được huy động vốn tối đa không quá 3 lần “vốn điều lệ”. Các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vượt quá 3 lần vốn điều lệ phải báo cáo chủ sở hữu xem xét, quyết định. Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí “vốn điều lệ” làm mốc để khống che mức huy động vốn có những bất cập, đó là: vốn điều lệ của doanh nghiệp là mức vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn vốn hợp pháp để bổ sung cho đủ vốn điều lệ được phê duyệt. Thông thường, vốn điều lệ luôn cao hơn vốn chủ sở hữu tại doanh nghiệp (nhiều doanh nghiệp trước đây có mức vốn điều lệ lớn trên 2 lần vốn chủ sở hữu thực có của doanh nghiệp). Vì vậy, việc sử dụng vốn điều lệ để khống chế mức huy động vốn tối đa sẽ làm cho mức dư nợ vay của doanh nghiệp càng vượt xa khả năng thanh toán của doanh nghiệp, trong khi phạm vi TNHH của doanh nghiệp lại là vốn của chủ sở hữu đầu tư tại doanh nghiệp. Không ít doanh nghiệp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh kém, làm mất vốn nhà nước (lỗ luỹ kế), sau quá trình hoạt động vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn điều lệ (hoặc vốn nhà nước), nếu cho phép những doanh nghiệp này được huy động vốn trên mức “vốn điều lệ” sẽ không đảm bảo được khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, để các doanh nghiệp huy động vốn đúng với thực lực tình hình tài chính tại thời điểm huy động vốn, Chính phủ quy định các doanh nghiệp được quyền chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh đảm bảo hệ số nợ phải trả trên “vốn chủ sở hữu” của doanh nghiệp không vượt quá 3 lần. Đối với doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn vượt quy định để đầu tư các dự án quan trọng phải báo cáo chủ sở hữu xem xét, quyết định trên cơ sở các dự án huy động vốn phải đảm bảo khả năng trả nợ và có hiệu quả.
- Quy định về “Đâu tư ra ngoài doanh nghiệp”: Trước đây, công ty nhà nước được phép đầu tư ra ngoài ngành nghề kinh doanh chính tối đa 30% tổng nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp. Riêng đối với hoạt động đầu tư góp vốn vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, công ty nhà nước chỉ được đầu tư vào mỗi lĩnh vực một doanh nghiệp; mức vốn đầu tư không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức nhận góp vốn, nhưng phải đàm bảo mức vốn góp của công ty mẹ và các công ty con trong tập đoàn, tổng công ty không vượt quá mức 30% vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp. Tuy nhiên, do năng lực, quản trị của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, sức cạnh tranh chưa mạnh; trong khi nguồn vốn để đầu tư vào ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp theo nhiệm vụ của chủ sở hữu giao còn thiếu, thì nhiều doanh nghiệp lại sử dụng một phàn nguồn vốn của doanh nghiệp để đầu tư vào một số lĩnh vực có tính chất rủi ro cao như: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư, bất động sản; đặc biệt có những doanh nghiệp đầu tư vào nhiều doanh nghiệp trong một lĩnh vực. Vì vậy, Chính phủ đã quy định các doanh nghiệp phải tập trung vốn đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh chính được chủ sở hữu giao, đảm bảo hoạt động đúng mục tiêu nhà nước.
- Quy định về “Phân phối lợi nhuận”: Trước đây, lợi nhuận của các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, chia lãi cho các thành viên góp vốn, bù đắp các khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế, trích quỹ dự phòng tài chính, quỹ đặc biệt đối với doanh nghiệp đặc thù; lợi nhuận còn lại được chia theo tỉ lệ giữa vốn nhà nước đầu tư và vốn doanh nghiệp tự huy động. Doanh nghiệp chỉ được sử dụng phần lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động để trích lập quỹ đầu tư phát triển, quỹ thưởng ban quản lý điều hành và 02 quỹ khen thưởng, phúc lợi. Quy định này đã nảy sinh bất cập, đó là: nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu bằng vốn nhà nước đầu tư, vốn tự huy động ít hoặc không có; khi phân phối lợi nhuận sau thuế, do vốn tự huy động ít hoặc không có dẫn đến không có nguồn để trích 02 quỹ khen thưởng, phúc lợi và quỹ thưởng ban quản lý điều hành, mặc dù doanh nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, Chính phủ đã quy định lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước sẽ cho phép các doanh nghiệp trích lập quỹ đầu tư phát triển; quỹ khen thưởng, phúc lợi và quỹ thưởng viên chức quản lý doanh nghiệp theo mức hoàn thành nhiệm vụ. Phần lợi nhuận còn lại, Nhà nước sẽ thu về để đảm bảo được mục tiêu Nhà nước thu hồi một phần vốn nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp, nhằm mục đích tiếp tục đầu tư phát triển doanh nghiệp.
Kế thừa và bổ sung quy định của Nghị định số 71/2013/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 đã dành Chương III gồm 14 điều (từ Điều 22 đến Điều 35) quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nghị đinh số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 quy định chi tiết việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018), bao gồm: quy định đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, đầu tư bổ sung vốn điều lệ đối với doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động với các quy định cụ thể về phạm vi đầu tư vốn nhà nước, thẩm quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước, trình tự thủ tục đầu tư vốn nhà nước.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)