- 1. Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là gì?
- 2. Biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
- 2.1. Vì sao phải ghi nhận biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động tố tụng hình sự?
- 2.2. Biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là gì?
- 3. Căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động tố tụng hình sự
- 3.1. Căn cứ thứ nhất
- 3.2. Căn cứ thứ hai: xảy ra hành vi vi phạm trật tự phiên tòa.
Thưa luật sư, tôi đang nghiên cứu về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Căn cứ vào mục đích nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án có một nhóm các biện pháp cưỡng chế. Vậy biện pháp cưỡng chế nhàm bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là gì? Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Đồng Hiếu - Quảng Trị
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
1. Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là gì?
Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cách thức mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
2. Biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
2.1. Vì sao phải ghi nhận biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động tố tụng hình sự?
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã ghi nhận hệ thông các quyền rộng rãi của công dân, đồng thời cũng đã quy định các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, thực hiện và bảo đảm quyển của công dân; ngược lại công dân cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Quyền của công dân luôn là nghĩa vụ của Nhà nước và quyền của Nhà nước cũng luôn là nghĩa vụ của công dân. Cùng với sự phát triển kinh tê - xã hội, sô' lượng các quyền của công dân sẽ ngày càng được mở rộng, đồng thời công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ tương ứng với các quyền mà họ được hưởng. Đối với mỗi công dân, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nưóc, xã hội là biểu hiện cao của ý thức trách nhiệm làm chủ của công dân đôì vởi đất nước.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, người tham gia tố tụng được các cơ quan tiến hành tố tụng tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyển và lợi ích hợp pháp, đồng thời họ cũng phải nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án cho thấy, thái độ của những người tham gia tố tụng đối với việc thực hiện nghĩa vụ tố tụng rất khác nhau; thông thường họ có các cách thể hiện thái độ như sau:
Thứ nhất, người tham gia tố tụng có thông tin liên quan đến vụ án hình sự, không cần có giấy triệu tập, tự nguyện đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án để cung cấp thông tin đó. Trong trường hợp này, người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Thứ hai, người tham gia tố tụng với ý thức trách nhiệm, có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc của Tòa án. Trong trường hợp này, ý chí của người tham gia tố tụng cũng phù hợp với lợi ích của Nhà nước.
Thứ ba, người tham gia tố tụng được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án triệu tập, nhưng vì các lý do khác nhau, trong thâm tâm không muốn đến. Tuy nhiên, do nhận thức được trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ tố tụng do pháp luật quy định, nên cuối cùng vẫn có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập.
Thứ tư, người tham gia tố tụng không muốn đến địa điểm theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc của Tòa án. Tuy nhiên, do sỢ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc sợ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chốỉ khai báo theo quy định tại Điểu 308 Bộ luật hình sự hiện hành, cho nên người này vẫn có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập.
Thứ năm, người tham gia tố tụng được Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Tòa án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế - áp giải hoặc dẫn giải.
Trong ba trường hợp đầu tiên, người tham gia tố tụng thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật một cách tự giác, còn hai trường hợp sau thực hiện nghĩa vụ do bị sức ép về tầm lý (trường hợp thứ tư) hoặc bị sức ép về mặt thể chất (trường hợp thứ năm).
2.2. Biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là gì?
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mốĩ quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tô' tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Để bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, khoản 4 Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: "Các tổ chức, công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ"; khoản 6 Điều 5 còn quy định: "Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ"; các điều 62, 63, 293,..., quy định các biện pháp cưỡng chế được áp dụng khi những người tham giatố tụng không thực hiện nghĩa vụ tô' tụng hoặc những người đến dự phiên tòa vi phạm trật tự phiên tòa. Các biện pháp cưỡng chế được áp dụng bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, bao gồm áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải người làm chứng, tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm, kê biên tài sản, những biện pháp đôì với người vi phạm trật tự phiên tòa.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như sau: Biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án là cách thức mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng nhằm buộc những người tham gia tố tụng hoặc những người tham dự phiên tòa phải thực hiện những nghĩa vụ tô' tụng, để hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
3. Căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động tố tụng hình sự
Để bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử và thi hành án tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, cần thiết phải áp dụng một sô' biện pháp cưỡng chế như áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải người làm chứng, tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm, kê biên tài sản, những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa. Tuy nhiên, các Bộ luật tố tụng hình sự trước đây, cũng như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không có điều luật riêng quy định về những căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế này.
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga cho thấy, Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định những căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác:
"1. Để bảo đảm hoạt động tố tụng hình sự tuân thủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và bảo đảm thi hành án, nhân viên điều tra ban đầu, dự thẩm viên, kiểm sát viên hoặc Tòa án có quyển áp dụng đối với người bị tình nghi hoặc bị can các biện pháp cưỡng chế tố tụng sau:
- Buộc phải có mặt;
- Dẫn giải;
- Tạm đình chỉ chức vụ;
- Kê biên tài sản.
Trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này, nhân viên điều tra ban đầu, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên hoặc Tòa án có quyển áp dụng đốì với người bị hại và những người tham gia tố tụng khác các biện pháp cưỡng chế tố tụng sau:
- Buộc phải có mặt;
- Dẫn giải;
- Phạt tiền".
Trên cơ sở những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 về căn cứ áp dụng biện pháp áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải người làm chứng, tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm, kê biên tài sản, chúng ta có thể đưa ra mô hình lý luận những căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiên hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như sau:
3.1. Căn cứ thứ nhất
Căn cứ thứ nhất để việc tiến hành hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử và thi hành án tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án), người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, ngưòi bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch), của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm giải quyết vụ án hình sự theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Khi những người tham gia tố tụng, công dân có hành vi gây khó khăn cho việc điểu tra, truy tố, xét xử và thi hành án, thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Như vậy, căn cứ để áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là những hành vi gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của những người tham gia tố tụng đã hoặc đang diễn ra trên thực tế như bị can là người có chức vụ sử dụng vị trí công tác của mình cản trở việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, người làm chứng cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trỏ ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử... Việc gây trỏ ngại của bị can là người có chức vụ đốì với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phải chưa nghiêm trọng đến mức phải áp dụng biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
3.2. Căn cứ thứ hai: xảy ra hành vi vi phạm trật tự phiên tòa.
Chủ thể của hành vi vi phạm trật tự phiên tòa có thể là người tham dự phiên tòa, bị cáo, người bị hại, thân nhân của họ... Hành vi vi phạm trật tự phiên tòa rất đa dạng như la hét, có lời nói xúc phạm Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự; đi lại lộn xộn, chen lấn, xô đẩy, tự ý tiếp xúc vối bị cáo đang bị tạm giam, thậm chí có hành vi tấn công Hội đồng xét xử, đánh tháo bị cáo... Như vậy, hành vi vi phạm trật tự phiên tòa có thể là hành vi vi phạm hành chính, mà cũng có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Cả hai trường hợp vi phạm này đều là căn cứ để người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động xét xử được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập