Mục lục bài viết
1. Khái niệm cổ phần
cổ phần là phần chia nhỏ nhất trong vốn điều lệ của một công ty cổ phần. So với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cấu trúc vốn của công ty cổ phần có nhiều khác biệt. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, mỗi thành viên chỉ có một phần vốn góp và phần vốn góp của các thành viên có thể bằng nhau hoặc khác nhau. Tuy nhiên trong công ty cổ phần, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau. Theo đó, mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều phần vốn góp (cổ phần).
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Đặc thù này của công ty cổ phần xuất phát từ một triết lý đơn giản: nhiều con suối nhỏ sẽ tạo thành một dòng thác lớn. Cồng ty cổ phần khác với các công ty khác ở chỗ số lượng cổ đông (người góp tiền vào công ty) không bị hạn chế. Triết lý kinh doanh này tương tự như câu chuyện của cái đập thủy điện: Để có được một lượng nước đủ nhiều có thể chạy được tuốc bin phát điện cần phải bắt đầu từ việc dẫn những con suối. Từhg con suối không đủ sức làm quay tuốc bin nhưng rất nhiều con suối thĩ đủ tạo ra sức mạnh.
Công ty cổ phần chính là công cụ để huy động những đồng tiền nhàn rỗi trong xã hội và giao nó cho người có tài kinh doanh để có thể sử dụng theo cách có hiệu quả nhất. Ở Vỉệt Nam, mệnh giá của một cổ phần thông thường là 10.000 đồng. Nếu huy động được số lượng lớn nhà đầu tư với số vốn lớn thì hiệu quả cũng sẽ tương tự như chiếc đập thủy điện mà ta vừa đề cập.
Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, thành viên góp vốn vào công ty ưở thành thành viên của công ty. Theo đó, các thành viên của công ty có các quyền và nghĩa vụ như nhau. Mức độ quyết định các vấn đề của công ty sẽ theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong công ty. Trong công ty cổ phần, cổ phần không chỉ có một mà bao gồm nhiều loại khác nhau. Hệ quả là quyền, nghĩa vụ của các cổ đông sở hữu cảc loại cổ phần khác nhau cũng sẽ khác nhau.
2. Các loại cổ phần
2.1. Nguyên lý thiết kế cổ phần
Vỉệc chia cổ phần làm nhiều loại khác nhau có nguyên nhân. Nguyên thủy ban đầu, trong công ty cổ phần chỉ có một loại cổ phần duy nhất, cũng như trong công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có một loại vốn góp mà thôi. Theo đó, các cổ đông sẽ có những quyền và nghĩa vụ như nhau. Nhưng theo thời gian, nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn, cổ phần trong công ty cổ phần đã “biến tấu” các đặc điểm của mình. Kết quả là trong công ty hình thành nên nhiều loại cổ phần khác nhau .
Theo đó, việc thiết kế các loại cổ phần trong công ty cổ phần xuất phát từ loại cổ phần “ban đầu”. Trên thực tế, các loại cổ phần sẽ bao gồm loại cổ phần ban đầu và các loại cổ phần phái sinh. Theo pháp luật về doanh nghiệp, cổ phần được chia làm hai loại là: (i) cổ phần phổ thông và (ỉỉ) cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi, như tên gọi của nó, sẽ có nhũng ưu đãi so với cổ phần phổ thông. Việc thiết kế các loại cổ phần ưu đãi phải thỏa mãn đồng thời hai tiêu chí:
Thứ nhất: Loại cổ phần này phải có những ưu đãi nhất định. Qua đó tạo nên sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư lựa chọn đầu tư vào công ty.
Thứ hai: Phải bảo đàm sự bình đẳng với những người sở hữu cổ phần phổ thông.
Do đó, cách thức tạo lập các loại cổ phần trong công ty sẽ theo hướng nếu loại cổ phần này có những ưu đãi về quyền ở mặt này thì sẽ có những hạn chế nhất định ở những mặt khác.
2.2. Các loại cổ phần theo pháp luật về doanh nghiệp
Công ty cổ phần có cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi, trong đó cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có. Cổ phần ưu đãi có thể có các loại sau đây:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết,
- Cổ phần ưu đãi cổ tức,
- Cổ phần 'ưu đãi hoàn lại,
- Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
2.2.1 Cổ phần phố thông:
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có trong công ty cổ phần. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Cổ đông phổ thông có các quyền và nghĩa vụ quy định
Tuy nhiên, đổỉ với cổ đông sáng lập thì có một số vấn đề cần lưu ý như sau:
Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Nghĩa vụ phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất là 20% tổng số cổ phần phổ thông là một nghĩa vụ luật định. Nghĩa vụ này được lý giải thông qua vai trò của cổ đông sáng lập. cổ đông sáng lập là những người đầu tiên có ý tưởng về thành lập doanh nghiệp, là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Do vậy, vai trò của họ đối với công ty là rất lớn. Việc bắt buộc cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua 20% cổ phần phổ thông nhằm làm cho mối quan hệ của họ và công ty gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên cơ sờ cho sự gắn kết về quyền lợi giữa các cổ đông này với công ty.
Trong tình huống trên, Vigecam cùng với ba cổ đông khác đóng vai trò là cổ đông sáng lập của công ty. Riêng Vigecam đã góp 12,5 tỷ đồng tương đương với 36,76% vốn điều lệ của Công ty cổ phần Vinacam.
Công ty cổ phần là một công ty đối vốn điển hình. Một trong những đặc trưng quan trọng của loại hình công ty này là sự chuyển nhượng dễ dàng phần vốn mà thành viên đã góp vào công ty. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ:
Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chi được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường họp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty.
Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ.
Như vậy trong ba năm đầu, cổ đông sáng lập chỉ có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho các cổ đông sáng lập khác. Vỉệc chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập, bất kể người đó có phải là cổ đồng của công ty hay không đều phải được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông. Và trong trường hợp này thì cổ đông sáng lập này không được biểu quyết.
Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông cùa cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty
Thời hạn ba năm này được hiểu là khoảng thời gian cần thiết để một công ty có được sự hoạt động ổn định. Việc giới hạn này không chỉ có ý nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi của công ty mà còn nhằm bảo đảm cho quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng tránh được các rủi ro trong những ngày đầu hoạt động của công ty.
Mặc dù nguyên tắc là thế, nhưng việc áp dụng nguyên tắc này trong quá trình vận hành của công ty cổ phần hiện nay vẫn có những vướng mắc nhất định. Các vướng mắc đó một phần xuất phát từ việc chưa xác định rõ bản chất của cổ phần trong công ty.
Trong công ty cổ phần, pháp luật về doanh nghiệp không chấp nhận tình trạng “nợ vốn”. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ. Cụ thể: “Cúc cồ đông sảng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng sổ cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp và các cổ đông phải thanh toán đủ sổ cổ phần đã đăng kỷ mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cồ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm giảm sát, đôn đốc thanh toán đủ và đủng hạn các cổ phần các cổ đông đã đăng kỷ mua”
về mặt lý thuyết, cũng có thể xảy ra trường hợp là cổ đông sáng lập đăng ký một số lượng cổ phần phổ thông nhưng sau đó lại không mua.
Trường hợp có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các cách sau đây:
- Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty;
- Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đù số cổ phần đó;
- Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty.
- Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ đó.
2.2.2 Cổ phần ưu đãi:
về nguyên tắc, các cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông có các quyền và nghĩa vụ như nhau. Các quyền của cổ đông phổ thông gồm hai nhóm quyền cơ bản là nhóm quyền về tài sản và quyền quản lý công ty. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sẽ có lúc công ty có nhu cầu về vốn. Một vấn đề đặt ra là làm sao huy động được vốn cho công ty mà không làm thay đổi quyền quản lý trong công ty. Mặt khác, trong xã hội người có những khoản tiền nhàn rỗi và họ muốn khoản tiền đó sinh lợi. Họ có thể lựa chọn giữa việc đem gửi ngân hàng để hưởng lợi nhuận hoặc đầu tư vào công ty cổ phần, và họ cũng không quan tâm đến vấn đề quản lý công ty. Từ những nhu cầu như vậy mà cổ phần ưu đãi ra đời.
Tên gọi là cổ phần ưu đãi dễ tạo cảm giác đây là loại cổ phần được ưu đãi hơn so với cổ phần phổ thông, vấn đề không phải như vậy. Chúng ta nhìn nhận về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông. Nói cách khác, cổ phần phổ thông là gốc, là xuất phát điểm để trên cơ sở đó, người ta thay đổi một vài đặc tính của loại cổ phần này sẽ dẫn đến sự ra đời của các loại cổ phần ưu đãi . Khi tạo ra cổ phần ưu đãi, cổ phần này sẽ có một số quyền được ưu đãi hơn so với cổ phần phổ thông, ví dụ cổ tức cao hơn, được ưu tiên hoàn lại vốn... Tuy nhiên, để bảo đảm công bằng giữa các cổ đông, cổ phần ưu đãi sẽ bị hạn chế một số quyền nhất định để tổng các quyền của cổ phần ưu đãi cũng bằng với cổ phần phổ thông.
Khi nghiên cứu vê các cổ phần ưu đãi cụ thể, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu nó là gì? Ai có quyền sở hữu? Các ưu đãi và hạn chế của người sở hữu loại cổ phần ưu đãi này so với cổ phần phổ thông?...
Theo Luật doanh nghiệp năm 2020, các loại cổ phần ưu đãi là:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ phần ưu đãi cổ tức;
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
- Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông.
Dựa trên nguyên lý lấy cổ phần phổ thông làm gốc, pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận ưu đãi của loại cổ phần ưu đãi biểu quyết là “có sổ phiếu biểu quyết cao hơn so với cổ phần phổ thông”. Tuy vậy, cao hơn bao nhiêu, cụ thể sẽ do Điều lệ công ty quy định
Thoạt nhìn, loại cổ phần này không có bất kỳ sự hạn chế nào. Tuy vậy, các hạn chế này của cổ phần ưu đãi biểu quyết thể hiện qua việc nghiên cứu quyền, nghĩa vụ của cổ đông ưu đãi biểu quyết.
Người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết. Tuy vậy, chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
(i) Cổ đông sáng lập: là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần
Luật doanh nghiệp năm 2020 phân biệt rõ vai trò của các cổ đông và cổ đông sáng lập. Theo đó, cổ đông sáng lập được hiểu là những người đầu tiên có ý tưởng về việc thành lập doanh nghiệp, là người khởi xướng thành lập, người hoạch định đường lối hoạt động của công ty trong thời gian đầu. Vai trò của loại cổ đông này trong buổi đầu hoạt động của công ty là rất quan trọng. Cụ thể:
“Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập; công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập...”
Tuy nhiên, công ty cổ phần là loại công ty đối vốn. Có nghĩa các vấn đề trong việc quản lý điều hành của công ty cổ phần dựa trên cơ sở vốn góp vào công ty. Ai góp nhiều thì có quyền biểu quyết cao và ngược lại. Nguyên tắc này được áp dụng cho mọi cỗ đông trong công ty. Tuy vậy, cổ đông sáng lập có vai trò quan trọng trong thời gian đầu của công ty. Nhưng không phải lúc nào các cổ đông sáng lập cũng có đủ tiềm lực tài chính để có thể đầu tư tới mức kiểm soát được công ty. cổ phần ưu đãi biểu quyết được nhìn nhận như là một trong những giải pháp cho bài toán này. Tuy nhiên, ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chi có hiệu lực trong ba năm. Ba năm được coi là một khoảng thời gian đủ để công ty từ chỗ mới ra đời đến lúc tạo được chỗ đứng trên thương trường.
Chỉ cỏ tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kỷ kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
(ii) Tổ chức được Chỉnh phủ ủy quyền: Khác với cổ đông sáng lập, Luật doanh nghiệp năm 2020 không giới hạn thời gian mà cổ đông này (tổ chức do Chính phủ ủy quyền) được sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ đông sáng lập, với đặc thù của cá nhân, việc sở hữu loại cổ phần ưu đãi biểu quyết dễ dàng được chấp thuận. Nhưng tổ chức do Chính phủ ủy quyền tại sao cũng được sở hữu loại cổ phần ưu đãi này? Xuất phát từ nhu cầu quản lý của Nhà nước, “Nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...” (khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013), “Nhà nước... điều tiết nền kinh tế...” (Điều 52 Hiến pháp năm 2013), trong một số ngành, nghề, lĩnh vực quan trọng có sự tham gia của Nhà nước thông qua các tổ chức do Chính phủ ủy quyền. Tuy nhiên, cũng tương tự như cổ đông sáng lập, Nhà nước có nhu cầu kiểm soát công ty nhưng vốn đâu tư vào doanh nghiệp thấp. Và đó cũng là lý do để tổ chức do Chính phủ ủy quyền được quyền sở hữu loại cổ phần này.
3. Bình luận
Dưới góc độ một nhà đầu tư, mục tiêu khi tham gia thương trường là lợi nhuận. Một trong những vấn đề then chốt là đầu tư càng nhiều thì rủi ro càng cao, đặc biệt khi tiền của mình đầu tư nhưng lại giao cho người khác sử dụng, quản lý.
Như đã đề cập, quyền biểu quyết trong các công ty đối vốn tỷ lệ thuận với vốn góp. Và việc sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được nhìn nhận như một ngoại lệ cùa nguyên tắc này. Cần phải xác định cổ phần ưu đãi biểu quyết nếu sử dụng thích hợp sẽ tạo nên lợi ích to lớn, nhưng nếu lạm dụng thì nguy cơ bị tẩy chay từ phía các nhà đầu tư là có thật, vấn đề là phải có một chiến lược phát hành cổ phần với tỷ lệ cổ phần ưu đãi biểu quyết thích hợp.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê