1. Pháp luật Trung Quốc về đầu tư nước ngoài

Nhà đầu tư nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc phải tuân thủ các chính sách và quy định pháp luật của nước này (theo Calvin s Goldman QC, The Foreign Investment Regulation Review, 5th edition, 2017, p.55). Những luật quan trọng nhất điều chỉnh vấn đề đầu tư nước ngoài của Trung Quốc là các luật về loại hình đầu tư (doanh nghiệp có 100% vốh đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh vốn cổ phần, doanh nghiệp Hên doanh hợp tác,...) cùng các văn bản hưóng dẫn; luật chuyên ngành về một số lĩnh vực đầu tư như viễn thông, hàng không dân dụng, in ấn; luật về mua bán - sáp nhập, kiểm soát an ninh và luật cạnh tranh.

Chính sách của Trung Quốc về đầu tư nước ngoài tiêu biểu là Danh mục hướng dẫn công nghiệp đầu tư nước ngoài, trong đó phân loại các ngành công nghiệp ở Trung Quốc thành các nhóm “ưu tiên”, “hạn chế và “cấm” đốì với hoạt động đầu tư nước ngoài. Những ngành công nghiệp không được liệt kê trong Danh mục được xem là những ngành cho phép đầu tư nước ngoài.

Quyền và lợi ích của nhà đầu tư được bảo hộ theo các luật về loại hình doanh nghiệp. Các luật này quy định Chính phủ Trung Quốc sẽ thông thường không áp đặt các biện pháp quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản, hoặc nếu có thì các biện pháp này phải tuân theo quy trình hợp lý và nhà đầu tư phải được bồi thường. Nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, các chính quyền địa phương có thể hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc trao quyền sử dụng đất, cung cấp các khoản ưu đãi về thuế....

 

2. Cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài

Kể từ khi ký kết BIT đầu tiên với Thụy Điển vào năm 1982, Trung Quốc hiện có 109 hiệp định đầu tư song phương và 19 hiệp định thương mại tự do đang có hiệu lực tính đến ngày 8/3/2019. Các BIT mà Trung Quốc đã ký kết trải rộng khắp các châu lục Á, Âu, Phi, khu vực Mỹ Latinh và châu Đại dương, trong đó có các đối tác quan trọng của Trung Quốc tại châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, An Độ, Nga, Iran, Ả Rập Xê út, Cô oét, Cadắcxtan; tại châu Phi như Nam Phi, Ai Cập, Nigiêria, Xuđăng, Kênya; tại khu vực Mỹ - Latinh như Canada, Áchentina, Bôlivia, Uruguay, Êcuađo, Chile, Pêru, Mexico1. Trong số 27 nước thành viên Liên minh châu Âu, ngoại trừ Alien, 26 nước còn lại đều đã ký kết BIT với Trung Quốc. Điểm đáng chú ý là Trung Quốc vẫn chưa ký kết BIT với Hoa Kỳ. Hai nước vẫn đang tiến hành các cuộc đàm phán. Các FTA tiêu biểu mà Trung Quốc ký kết là Trung Quốc - ASEAN FTA (2010), Trung Quốc - Ôxtrâylia FTA (2015), Trung Quốc - Hàn Quốc FTA (2015), Trung Quốc - Thụy Sĩ FTA (2013), Trung Quốc - Aden FTA (2013)...

Mặc dù ký kết nhiều hiệp định đầu tư, Trung Quốc chỉ bị nhà đầu tư nước ngoài kiện trong 03 vụ, trong khi số vụ nhà đầu tư Trung Quốc kiện quốc gia khác là 05 vụ. Điều này là nhờ vào chính sách soạn thảo BIT của Trung Quốc.

Các thế hệ BIT của Trung Quốc trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất vào những năm 1980, giai đoạn thứ hai là những năm 1990, giai đoạn thứ ba bắt đầu từ cuối những năm 1990. Trung Quốc bắt đầu ký kết BIT sau khi ban hành chính sách mở cửa vào cuối những năm 1970 nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế. Ngoài ra, việc các nhà đầu tư Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động đầu tư ở nước ngoài cũng là một động lực thúc đẩy việc ký kết BIT. Tuy vậy, Trung Quốc khi đó vẫn chủ yếu là nước nhận đầu tư, do đó các BIT mà Trung Quốc ký kết trong thời kỳ này chủ yếu là với các nước phát triển. Những BIT này chứa các điều khoản cơ bản như định nghĩa, đốì xử công bằng và thỏa đáng, đối xử tối huệ quốc, tịch thu tài sản... Do Trung Quốc khỉ đó chưa gia nhập Công ước ICSID nên điều khoản giải quyết tranh chấp trong các BIT dẫn chiếu đến tòa trọng tài theo vụ việc và tòa án trong nước.

 

3. Những điểm khác biệt của BIT khi Trung Quốc Quốc ký kết với các nước đang phát triển

Đúng vậy, ngoài ở mục 2 vừa nêu, còn có những BIT mà Trung Quốc ký kết với các nước đang phát triển có một số điểm khác biệt, đó là:

- Thứ nhất, tinh thần khuyến khích và thúc đẩy đầu tư được phản ánh trong lời mở đầu và các điều khoản như định nghĩa khoản đầu tư, quy trình tham vấn.

- Thứ hai, chủ quyền và quyền tài phán quốc gia được đặc biệt nhấn mạnh. Chẳng hạn, các BIT mà Trung Quốc ký kết với Thái Lan, Xingapo, Xri Lanca đều yêu cầu khoản đầu tư phải được chấp thuận bởi quốc gia nhận đầu tư mối được bảo vệ bởi BIT, hay vấn đề về tính hợp pháp của hành động tịch thu tài sản nên được xác định bởi tòa án trong nưốc hơn là trọng tài quốc tế.

- Thứ ba, các BIT này tạo sự linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của các nước ký kết, nhất là trong các điều khoản chuyển tiền.

Trung Quốc ký gia nhập Công ước ICSID năm 1990 và phê chuẩn năm 1993, đánh dấu thế hệ thứ hai của BIT của Trung Quốc. Các BIT này bắt đầu cho phép việc khởi kiện ra trọng tài ICSID, nhưng chỉ đốỉ với các tranh chấp liên quan đến số tiền bồi thường cho việc tịch thu tài sản1. Mặt khác, nhiều BIT của Trung Quốc ký kết sau năm 1993 không tuân theo mô hình này mà vẫn theo mô hình BIT thế hệ thứ nhất. Điều này cho thấy sự e dè nhất định của Trung Quốc khi chấp nhận trọng tài ICSID trong các BIT.

 

4. Đặc điêm BIT mẫu lần thứ 3 (năm 1997)

Trung Quốc ban hành BIT mẫu lần thứ 3 vào khoảng năm 1997 và sử dụng nó trong các đàm phán BIT. BIT mẫu có một số điểm đặc sắc thể hiện chính sách soạn thảo BIT của Trung Quốc.

- Thứ nhất, khoản đầu tư phải được tạo ra phù hợp vái luật và quy định của Trung Quốc mới được bảo hộ theo BIT.

- Thứ hai, mặc dù BIT mẫu có nghĩa vụ đốỉ xử quốc gia và cấm phân biệt đôì xử, các nghĩa vụ này vẫn phụ thuộc vào luật pháp và quy định của Trung Quốc, ở phiên bản BIT mẫu đầu tiên, Trung Quốc thậm chí không đưa vào nghĩa vụ đối xử quốc gia. Do đó, đây được xem là một bước tiến lớn.

- Thứ ba, về tiêu chuẩn bồi thường cho việc tịch thu tài sản, BIT mẫu không trực tiếp sử dụng “công thức Hull” (nhanh chóng, đầy đủ và hiệu quả) mà thay bằng khoản bồi thường “tương đương với giá trị khoản đầu tư bị tịch thu” và việc bồi thường phải “không chậm trễ, bằng loại tiền tệ được chuyển đổi tự do”.

- Thứ tư, quyền tự do lưu chuyển tiền cũng phải tuân theo luật pháp và quy định của Trung Quốc. Điều kiện này là cần thiết bởi Trung Quốc vẫn đang áp dụng chính sách kiểm soát chuyển đổi ngoại tệ.

- Thứ năm, BIT mẫu có điều khoản “chọn giữa hai ngã rẽ”, yêu cầu nguyên đơn phải lựa chọn sử dụng hoặc tòa án trong nưốc hoặc tòa trọng tài ICSID để giải quyết tranh chấp.

 

5. Nội dung chủ yếu của pháp luật đầu tư nước ngoài Trung Quốc

Điểm nổi bật của Luật đầu tư nước ngoài là quy định cấm các hành vi cưỡng ép công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ cho công ty Trung Quốc. Đây là câu trả lời của Trung Quốc trước các áp lực và cáo buộc về việc hành xử không theo thông lệ quốc tế và hành vi đánh cắp sở hữu trí tuệ của Mỹ mà theo đánh giá của Mỹ, mỗi năm thiệt hại đến trăm tỷ USD.

Luật đầu tư nước ngoài gồm 6 chương đề cập tới những vấn đề như xúc tiến đầu tư, bảo hộ đầu tư, quản lý đầu tư nước ngoài của Chính phủ và trách nhiệm pháp lý. Luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh hoạt động đầu tư của các cá nhân, công ty và tổ chức nước ngoài, bao gồm cả liên doanh giữa nước ngoài với công ty Trung Quốc.

Điều 22 của Luật đầu tư nước ngoài quy định:“Chính phủ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư và các công ty nước ngoài. Các tổ chức Trung Quốc không được sử dụng các biện pháp hành chính để bắt buộc chuyển giao công nghệ”.

Luật đầu tư nước ngoài kỳ vọng giải quyết được những mối quan tâm lớn nhất của các công ty nước ngoài như xử lý vấn đề tài sản trí tuệ, yêu cầu các công ty nước ngoài hợp tác với một công ty địa phương và tình trạng trợ cấp thiên vị cho các công ty Trung Quốc. Luật cũng sẽ giải quyết tình trạng ưu ái các công ty Trung Quốc trong việc trao hợp đồng và tình trạng buộc các công ty nước ngoài phải trao các bí mật công nghệ như một vé vào cổng thị trường lớn của Trung Quốc.

Luật đầu tư nước ngoài cũng có các điều khoản ngăn cấm các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào 48 lĩnh vực như thị trường đánh cá, nghiên cứu gen, giáo dục tôn giáo, phương tiện truyền thông, phát sóng truyền hình…

Đối với lĩnh vực tài chính, Luật đầu tư nước ngoài tiếp tục đưa ra các quy định riêng đối với công ty nước ngoài khi đầu tư vào ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.

Luật đầu tư nước ngoài quy định Chính phủ có quyền kiểm soát cổ đông nước ngoài nếu như lợi ích công bị đe dọa, kiếm tra doanh nghiệp nước ngoài nếu như hoạt động của doanh nghiệp này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Luật đầu tư nước ngoài quy định: nếu bất kỳ quốc gia hoặc khu vực nào đưa ra lệnh cấm mang tính phân biệt đối xử lên hoạt động đầu tư Trung Quốc thì Trung Quốc có thể thực hiện các biện pháp đáp trả tương xứng.

Liên quan đến việc Trung Quốc ban hành Luật đầu tư nước ngoài có hai điều cần được các nhà làm luật nước ta lưu ý: 1) Chỉ trong thời gian ba tháng thay vì vài ba năm như trước đây. Trong thế giới đầy biến động khó lường thì việc điều chỉnh luật pháp của mỗi quốc gia là cần thiết để ứng phó kịp thời và có kết quả với bối cảnh mới về chính trị và kinh tế toàn cầu. Mỹ và các quốc gia phương Tây tiếp cận cách xây dựng luật pháp như vậy, do đó có khi trong một ngày đã ban hành luật mới chỉ với một vài nội dung cần thiết. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và nhiều luật khác nhưng phải mất nhiều năm mới được Quốc hội thông qua, trong khi cuộc sống đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn. 2) Có hiệu lực từ đầu năm 2020 mà không cần nghị định, thông tư hướng dẫn. Đây cũng là điều mà Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng để không kéo dài tình trạng luật đã có hiệu lực thi hành nhưng vì chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn nên vẩn chưa điều chính được hoạt động kinh tế- xã hội.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).