1. Căn cứ pháp lý

- Luật doanh nghiệp 2020

- Nghị định 47/2020/NĐ-CP

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

2. Quy định chung về công ty cổ phần

Công ty cổ phần theo định nghĩa là công ty trong đó vốn chia thành cổ phần, được thành lập giữa những thành viên chịu trách nhiệm về nợ nần của công ty trong phạm vi góp vốn.

Công ty cổ phần là một công ty hợp vốn quy tụ các thành viên là những người có thể không quen biết nhau, họ tham gia thành lập công ty trên cơ sở số vốn mà họ đầu tư vào công cuộc kinh doanh.

Vốn công ty được chia thành cổ phần. So sánh với phần hùn trong các Công ty hợp danh và Công ty TNHH, cổ phần có lợi điểm là được tự do chuyển nhượng mà không cần có sự thoả thuận giữa các thành viên khác, cổ phiếu (chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu cổ phần) còn là một dụng cụ giao hoán râ't thuận tiện bởi vì nó có thể được chuyển nhượng dễ dàng. Công ty cổ phần có quyền huy động vốn trong công chúng bằng cách phát hành chứng khoán, đây là một ưu điểm của công ty khi cần một số vốn lớn để phát triển kinh doanh mà không phải vay ngân hàng. Thị trường chứng khoán tại một nước đang phát triển như Việt Nam là một yếu tô' quan trọng trong nền kinh tế, nó đòi hỏi phải có nhiều Công ty cổ phần đủ điều kiện để phát hành chứng khoán.trên thị trường theo Luật Chứng khoán.

Theo một nghiên cứu của chương trình phát triển kinh tế tư nhân (MPDF) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB), tổng số doanh nghiệp đăng ký tại Việt Nam trong 4 năm từ năm 2000 đến năm 2003 là 83.490, trong đó Doanh nghiệp tư nhân là 27.865, Công ty TNHH là 46.652 và Công ty cổ phần là 8.635. Con số khiêm nhường các Công ty cổ phần chứng tỏ giới kinh doanh có ấn tượng rằng hình thức Công ty cổ phần dành cho các dự án đầu tư lớn, sử dụng một số vốn quan trọng. Nhưng có lẽ đây không phải là quan niệm của nhà làm luật vì Luật Doanh nghiệp hiện hành dự liệu chỉ cần ba người là có thể thành lập Công ty cổ phần, Luật cũng không ấn định một số vốn tối thiểu nào cả. Tuy nhiên, việc quản lý công ty này có phần phức tạp hơn việc quản lý Công ty TNHH hay Doanh nghiệp tư nhân, do đó chỉ những doanh nhân có kế hoạch làm ăn lớn mới lựa chọn hình thức này.

2. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần

Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết (bao gồm cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết), là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo uỷ quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo uỷ quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện.

Hội đồng quản trị:

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.

Hội đồng quản trị có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên Hội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông của công ty.

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty:

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác, chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Ban kiểm soát:

Đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.

Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam. Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.

4. Những khó khăn trong điều hành công ty

Các biến cố có thể gây trở ngại cho cuộc sống của công ty, thậm chí khiến công ty phải châm dứt hoạt động, trên thực tế rất đa dạng. Có thể là do nguyên nhân bên ngoài (giá nguyên liệu tăng đột biến, kinh tế suy thoái...), có thể là nguyên nhân nội bộ (quản lý kém, đình công...).

Ở đây chúng ta chỉ xét các nguyên nhân nội bộ, thường bắt nguồn từ các xung đột giữa các cổ đông: hai nhóm đôi nghịch dứt khoát ngăn cản việc thành lập Hội đồng quản trị mới; những người lãnh đạo công ty từ chốỉ trong nhiều năm phân chia cổ tức cho cổ đông trong khi họ vẫn được hưởng thù lao chức vụ và hưởng lương chiếu theo hợp đồng lao động ký kết với cồng ty.

Để giải quyết các trường hợp bế tắc trên đây, nếu công ty bị bó tay thì cổ đông hay nhóm cổ đông có thể yêu cầu Toà án giải quyết chiếu theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Toà án có thể áp dụng các biện pháp sau đây:

5. Các biện pháp giải quyết khó khăn trong việc điều hành công ty

1.5. Quản trị viên tạm thời

Công ty có thể bị tê liệt vì thiếu cơ quan điều hành hoặc do sự đình công của những người quản lý: tất cả các thành viên Hội đồng quản trị đều đồng loạt từ chức mà không thể bầu một Hội đồng quản trị mđi do sự xung đột giữa các nhóm cổ đông; Hội đồng quản trị không thể hoạt động được do sự bất đồng giữa các thành viên, hoặc là các nhóm thiểu số và đa số cổ đông đấu đá nhau khiến quyền lợi của công ty bị đe doạ.

Trong trường hợp này theo yêu cầu của cổ đông, Toà án có thể cử ra một Quản trị viên tạm thời để quản lý công ty khi có chứng cứ cho thấy:

- Khó khăn mà công ty đang gặp có tính cách trầm ttọng khiến công ty không thể vận hành một cách bình thường và xâm hại đến quyền lợi của các cổ đông.

- Nguy cơ đến quyền lợi của công ty có tính cách chắc chắn và sắp xảy ra.

- Có khả năng giải quyết các khó khăn của công ty mà không cần giải thể.

Quản trị viên tạm thời do Toà án cử theo yếu cầu của người quản lý công ty hay của cổ đông, đơn yêu cầu được gửi đến Toà án nhân dân tỉnh, thành phô' trực thuộc Trung ương nơi công ty có trụ sở.

Quyết định của Toà án cử Quản trị viên tạm thời đồng thời xác định nhiệm vụ của người này. Trên nguyên tắc sau khi Quản trị viên tạm thời được cử, những người lãnh đạo đương nhiệm của công ty sẽ hết nhiệm vụ; Quản trị viên được cử có tất cả các thẩm quyền mà luật dành cho những người lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, Toà án có thể giới hạn các quyền này tùy từng trường hợp bởi vì nhiệm vụ cốt yếu của Quản trị viên là giải quyết khó khăn nhất thời của cồng ty và đưa công ty trở lại hoạt động bình thường.

Quản trị viên tạm thời chịu trách nhiệm đối với công ty, các cổ đông và những người thứ ba như những người lãnh đạo công ty.

5.2. Lạm quyền đa số và lạm quyền thiều số.

Trong quá trình hoạt động của Công ty cổ phần nhất là công ty có số lớn cổ đông, thường hình thành các nhóm có cùng quyền lợi, khi nhóm này nắm đa số cổ phần thì gọi là nhóm đa số, nhóm có ít cổ phần hơn gọi là nhóm thiểu số. Trong các phiên họp Đại hội đồng cổ đổng, nhóm đa số có thể lợi dụng ưu thế của mình khiến Đại hội đưa ra các nghị quyết có lợi cho nhóm và làm thiệt hại đến quyền lợi của nhóm thiểu số cổ đông. Mặt khác nhóm thiểu số cũng có thể liên kết với nhau biểu quyết chống lại nghị quyết của Đại hội đồng khiến công ty lâm vào tình trạng bê' tắc.

Gặp các trường hợp trên người quản lý công ty hay cổ đông có thể khởi kiện trước Toà án để yêu cầu Toà tuyên bố sự lạm dụng quyền của đa số hay thiểu số, hủy bỏ các nghị quyết liên quan và đòi bồi thường thiệt hại nếu có, Toà án sẽ áp dụng ở đây nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự theo đó: hễ ai hành xử quyền lợi của mình một cách lạm dụng mà làm thiệt hại đến quyền lợi của người khác thì được xem là có lỗi và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (lý thuyết lạm quyền).

Có sự lạm quyền đa số khi nhóm cổ đông đa số vận động khiến Đại hội đồng đưa ra các quyết định nhằm gây thiệt hại cho nhóm thiểu số hoặc là làm lợi cho các cổ đông đa số bất kể đến lợi ích của các cổ đông thiểu số, yếu tô' cơ bản của sự lạm quyền đa số là sự cổ ý phá vỡ sự bình đẳng giữa các cổ đông. Chế tài đối với hành vi lạm quyền đa số là tiêu hủy nghị quyết có tính lạm dụng và buộc người phạm lỗi bồi thường thiệt hại.

Có sự lạm quyền thiểu sô khi nhóm thiểu số kết hợp với nhau ngăn cản việc biểu quyết sửa đổi Điều lệ công ty để tăng vốn hay chuyển đổi công ty (các nghị quyết ttong trường hợp cần được cổ đồng đại diện cho ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận). Nguyên đơn phải chứng minh rằng thái độ của nhóm thiểu số là trái với quyền lợi của công ty và chỉ nhằm mục đích là làm lợi cho nhóm mà không kể đến quyền lợi của các cổ đông khác. Chế tài áp dụng trong trường hợp này chỉ có thể là buộc người có lội phải bồi thường thiệt hại.