Lúc mình sang Nhật mình có để lại thẻ cho bạn gái ở VN sử dụng vì 2 đứa xác định là kết hôn với nhau. Nhưng gần 1 năm sau do công việc của mình bên nhật thời điểm đó không ổn định và nhiều lí do khách quan, nên chúng mình đã quyết định dừng mối quan hệ lại .
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện ,,,
Giới hạn tín dụng (CREDIT LIMIT) là kỳ hạn thẻ tín dụng, đề cập số dư tối đa cho phép đối với một khách hàng thẻ tín dụng, thường được thiết lập bởi mô hình tín điểm tín dụng.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận...
Thư tín dụng có thể chuyển nhượng hoặc không được chuyển nhượng. Thư tín dụng chuyển nhượng cho phép bên bán (người thụ hưởng ban đầu của thư tín dụng) chuyển giao quyền lợi trong thư tín dụng cho bên thứ ba
Ban điều hành mà không phải là ai khác phải chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động tín dụng cũng như việc quản trị rủi ro tín dụng của tổ chức một cách đúng đắn. ể làm được việc này, họ phải có khả năng đánh giá được rủi ro và có các biện pháp cần thiết để hạn chế rủi ro. ...
Cấp tín dụng là một trong những hoạt động ngân hàng. Pháp luật có quy định chặt chẽ về hoạt động cấp tín dụng. Các loại hình hợp đồng tín dụng là gì? quy định về xét duyệt cấp tín dụng? Và giới hạn cấp tín dụng là gì? Tất cả nội dung đó sẽ được làm rõ trong bài viết dưới đây:
Khách hàng vay vốn, dự án, phương án được đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn cần phải đáp ứng những điều kiện gì? Điều kiện xem xét Khoản cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng được quy định như thế nào? Luật Minh Khuê nghiên cứu và giải đáp trong bài viết dưới đây:
Thưa luật sư, xin hỏi: Khi vay hoặc cho vay thì các bên có nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng như thế nào là đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam ạ ? Xin cho một vài ví dụ cụ thể ? Nếu được xin cung cấp thêm một số quy định của thế giới (thông lệ) về vấn đề này. Cảm ơn! (Người hỏi: M.T.H).
Tín dụng (credit) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là các khoản cho vay ngắn hạn. Cùng tìm hiểu về thuật ngữ này trong bài viết sau đây của Luật Minh Khuê.
Khi thực hiện cấp tín dụng hợp vốn, các tổ chức tín dụng phải tuân thủ một loạt các nguyên tắc nhất định để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và an toàn trong hoạt động của mình. Căn cứ vào Điều 3 của Thông tư 42/2011/TT-NHNN (được sửa đổi bởi khoản 3 của Điều 1 trong Thông tư 24/2016/TT-NHNN và khoản 4 của Điều 1 trong Thông tư 24/2016/TT-NHNN), việc thực hiện cấp tín dụng hợp vốn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Việc cấp tín dụng thông qua thẻ tín dụng đòi hỏi tuân thủ một loạt các điều kiện và quy định nhằm đảm bảo tính minh bạch, an toàn và công bằng trong quá trình vay và trả nợ. Điều này được phản ánh rõ trong các quy định của Thông tư 19/2016/TT-NHNN và các điều chỉnh và bổ sung sau này của Ngân hàng Nhà nước.
Xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người để giải quyết khó khăn kinh tế tạm thời nên đã hình thành hoạt động cấp tín dụng trong đó cho vay là giao dịch phổ biến hiện nay. Bài viết phân tích những quy định về hoạt động cấp tín dụng, cho vay cụ thể:
Công cụ phái sinh tín dụng sẽ gồm những hợp đồng song phương riêng tư và có thể chuyển nhượng được giữa hai bên tham gia trong mối quan hệ người cho vay và người đi vay. Nó giúp bên cho vay có thể chuyển nhượng được rủi ro vỡ nợ của bên đi vay cho một bên thứ ba.