1. Các khái niệm và chủ thể cơ bản

Công ty cổ phần :Công ty cổ phần theo quy định tại điều 77 Luật Doanh nghiệp (2005), là doanh nghiệp trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và là loại hình doanh nghiệp có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. 

Cổ phần phổ thông Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Cổ đông phổ thông có các quyền sau đây:
a) Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;
b) Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
c) Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;
d) Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông.
đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định 

2.Mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà quản lý và cổ đông

Công ty không do chính chủ sở hữu quản lý dễ gặp phải bất ổn về tổ chức: những người quản lý công ty được yêu cầu đặt lợi ích của công ty cao hơn lợi ích của chính họ và hai lợi ích này có thể không gặp nhau. Đây là điều mà các nhà kinh tế vẫn gọi là “vấn đề đại diện”: người quản lý công ty là người đại diện cho chủ sở hữu, và khi lợi ích của người đại diện được đặt lên trên, lợi ích thực sự của công ty sẽ bị đe dọa. Một vài cơ chế đã nỗ lực bằng cách này hay cách khác dung hòa các lợi ích trên nhưng sự khác biệt vẫn luôn tồn tại.
Tất nhiên, các cổ đông có thể kiểm soát đội ngũ quản lý, nhưng lợi ích của chính họ cũng có thể xung đột với lợi ích của công ty.
Xung đột, nói chung, không nảy sinh khi một người nắm giữ 100% cổ phần, bởi nếu làm điều gì đó sai trái: anh ta sẽ làm một việc có hại cho chính mình, và do đó trên thực tế rất hiếm khi điều này xảy ra. Vấn đề là cổ đông lớn có thể kiểm soát công ty trong khi chỉ nắm giữ 51% cổ phần hay thậm chí là ít hơn nếu các cổ đông khác yên lặng (thường với trường hợp công ty niêm yết). Nếu họ hành động đi ngược lại lợi ích của công ty, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm nắm giữ. Đặc biệt, trong một số trường hợp, nhờ cấu trúc tài chính kiểu kim tự tháp hoặc cổ phần có quyền bỏ phiếu ưu đãi, phần trăm kiểm soát lớn hơn tỷ lệ sở hữu. Thậm chí còn có thể xấu hơn khi người đại diện cổ đông không nắm giữ cổ phần của công ty nhưng lại có thể hưởng thụ 100% lợi ích và không phải chịu bất kỳ tổn thất nào. Đây là trường hợp những người làm việc cho ngân hàng, công ty hoặc cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn tới công ty. Họ có thể yêu cầu các loại ưu đãi cho bản thân và bạn bè với chi phí do công ty gánh chịu. Hiện tượng này được gọi là “vấn đề lạm dụng của cổ đông”. 

3.Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn

Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý là nhà quản lý không làm tròn trách nhiệm và làm sai quy định.
- Nhà quản lý sở hữu ít cổ phần không mấy quan tâm đến động lực phát triển. Khi lãnh đạo sở hữu ít cổ phần, họ thường ít có động lực để phát triển công ty, vì ý nghĩ “mình làm cho người khác hưởng". Điều này xảy ra ở nhiều doanh nghiệp niêm yết có nguồn gốc là các công ty nhà nước. Nhiều công ty có tiềm năng nhưng lợi nhuận không tăng trưởng nhiều, chỉ số P/E (hệ số giá trên thu nhập của một cổ phần) thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành (phản ánh giá thấp hơn giá trị thực). Thông thường, ban lãnh đạo chỉ có động lực duy trì tỷ lệ cổ tức nhất định (khoảng 10-20%) cho cổ đông.
- Nhà quản lý không muốn phát triển vì sợ mất kiểm soát. Ở nhiều doanh nghiệp có những dự án tiềm năng như bất động sản, thủy điện... việc huy động vốn mới đối với những công ty này không khó, nhưng ban lãnh đạo không làm vì sợ giảm tỷ lệ sở hữu, dẫn đến giảm quyền kiểm soát ở công ty. Vì thế, họ cố gắng vay nợ ở mức tối đa. Điều này làm tổn hại đến lợi ích của các cổ đông khác trong công ty.
- Nhà quản lý có thể không quyết định đầu tư nguồn lực vào một dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai, vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn (nếu thu nhập của nhà quản lý được xác định dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn)
- Nhà quản lý có thể báo cáo không trung thực về tình hình họat động của doanh nghiệp nhằm đạt mức lợi nhuận kế hoạch.
 Những hành vi như vậy của nhà quản lý sẽ làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư.
Nguyên nhân thứ hai gây ra nhiều xung đột là sự tranh chấp quyền lực, mà cụ thể là quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp. Các nhóm cổ đông nắm cổ phần chi phối thường muốn "người của mình" làm giám đốc hoặc cổ đông lớn là chủ tịch đồng thời muốn kiêm giám đốc điều hành nhằm mục đích không để bị loại ra khỏi HĐQT, không bị bãi miễn khỏi chức danh chủ tịch HĐQT. Nhiều trường hợp Giám đốc hoặc chủ tịch HĐQT không chấp nhận quyết định bãi miễn của HĐQT (dù quyết định đó là hợp pháp). Họ không ký thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật, không bàn giao quyền quản lý điều hành doanh nghiệp cho người mới được bổ nhiệm, khiếu kiện, khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩmquyền.
Nguyên nhân thứ ba là việc chia cổ tức bằng cổ phần. Hầu hết các cổ đông đều không muốn chia cổ tức bằng cổ phần do áp lực EPS (lợi nhuận trên mỗi cổ phần), nhưng các nhà quản lý vẫn đưa ra quyết định trả cổ tức bằng cổ phần. Nhưng khi cần tăng vốn điều lệ để được ngân hàng xét cho vay thêm để bổ sung vốn hoạt động, ban lãnh đạo lại muốn chia cổ tức bằng cổ phần, thậm chí thưởng cổ phần. Hiện nay, nhiều cổ đông, nhà đầu tư dị ứng với việc chia cổ tức bằng cổ phần do ngại việc “pha loãng” giá trị cổ phần. Điều này có thể dẫn đến mâu thuẫn trong đại hội cổ đông để thông qua điều này. Nhiều công ty có tiềm năng nhưng lợi nhuận không tăng trưởng nhiều, chỉ số P/E thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành (phản ánh giá thấp hơn giá trị thực). Thông thường, ban lãnh đạo chỉ có động lực duy trì tỷ lệ cổ tức nhất định (khoảng 10-20%) cho cổ đông.
Nguyên nhân cuối cùng là vấn đề giá phát hành cổ phần. Phát hành thêm cổ phần để có thêm vốn kinh doanh nhiều khi là vấn đề sống còn của doanh nghiệp niêm yết nhưng phát hành với giá nào là hợp lý và phát hành cho ai (cổ đông hiện hữu hay nhà đầu tư mới)? Thông thường, ban lãnh đạo muốn phát hành giá cao để thu được nhiều tiền mà không bị áp lực EPS khi cổ phần bị "pha loãng". Tuy nhiên, cổ đông lớn có thể không muốn phát hành cổ phần giá cao do còn phụ thuộc vào việc họ phải bỏ tiền mua thêm. Còn cổ đông nhỏ lẻ thì chỉ muốn mua với giá thấp để có cảm giác "được lợi". Giá hợp lý trong phương án phát hành, dù cho cổ đông hiện hữu hay nhà đầu tư mới, là giá hài hòa được lợi ích của các bên. 

4. Tình hình xung đột quyền lợi trong các công ty cổ phần ở Việt Nam

Hiện nay tại các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại nhiều loại tranh chấp. Điển hình là tranh chấp giữa các cổ đông, tranh chấp về quyền quản lý và điều hành công ty. 

- Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội cổ đông bị hạn chế

Luật Doanh nghiệp Việt Nam đã quy định rất rõ ràng rằng tất cả cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông. Mỗi phiếu biểu quyết tương ứng với một cổ phần phổ thông. Như vậy, theo luật, đã là cổ đông thì dù góp vốn ít nhiều đều có quyền tham dự và biểu quyết. Nhưng trên thực tế, các công ty cổ phần tại Việt Nam thì lại luôn tìm cách trốn tránh thực hiện điều này, nhất là trong thời gian vừa qua trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhiều doanh nghiệp thua lỗ mất vốn... Trong khi các cổ đông nhỏ, những người thấp cổ bé họng, trong công ty hi vọng có một cuộc họp hiệu quả, được nghe những kết quả báo cáo, kết quả kiểm toán thì một số ban lãnh đạo doanh nghiệp lại tìm mọi cách hạn chế quyền tham dự của họ. Một số doanh nghiệp lựa chọn các địa điểm thật xa trụ sở công ty, một số khác thậm chí còn tổ chức họp ở những thành phố khác. Động thái này nhằm gây khó khăn cho các cổ đông nhỏ lẻ vì họ sẽ mất chi phí đi lại, sắp xếp công việc của mình để có thể tham gia cuộc họp. Nhiều doanh nghiệp tìm cách đưa ra các lý do không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên ý chí của lãnh đạo công ty để biện minh cho sự vi phạm của mình (do địa điểmtổ chức bé, không đủ diện tích cho tất cả cổ đông, v.v.) 

-Sự lạm quyền của cổ đông nhà nước trong các công ty cổ phần hóa

Luật Doanh nghiệp Việt Nam đã quy định rất rõ ràng rằng tất cả cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông. Mỗi phiếu biểu quyết tương ứng với một cổ phần phổ thông. Như vậy, theo luật, đã là cổ đông thì dù góp vốn ít nhiều đều có quyền tham dự và biểu quyết. Nhưng trên thực tế, các công ty cổ phần tại Việt Nam thì lại luôn tìm cách trốn tránh thực hiện điều này, nhất là trong thời gian vừa qua trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhiều doanh nghiệp thua lỗ mất vốn... Trong khi các cổ đông nhỏ, những người thấp cổ bé họng, trong công ty hi vọng có một cuộc họp hiệu quả, được nghe những kết quả báo cáo, kết quả kiểm toán thì một số ban lãnh đạo doanh nghiệp lại tìm mọi cách hạn chế quyền tham dự của họ. Một số doanh nghiệp lựa chọn các địa điểm thật xa trụ sở công ty, một số khác thậm chí còn tổ chức họp ở những thành phố khác. Động thái này nhằm gây khó khăn cho các cổ đông nhỏ lẻ vì họ sẽ mất chi phí đi lại, sắp xếp công việc của mình để có thể tham gia cuộc họp. Nhiều doanh nghiệp tìm cách đưa ra các lý do không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên ý chí của lãnh đạo công ty để biện minh cho sự vi phạm của mình (do địa điểm tổ chức bé, không đủ diện tích cho tất cả cổ đông, v.v.)