1. Một số ngành, nghề hạn chế đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài ?

Thưa luật sư, theo tôi tìm hiểu thì nhà đầu tư nước ngoài chỉ bị hạn chế đầu tư kinh doanh tại Việt Nam theo theo quy định pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Việc hạn chế chủ yếu dưới hình thức: thành lập tổ chức kinh tế hoặc tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp theo quy định.
Vậy, ngành nghề nào bị hạn chế đầu tư ạ ?
Xin tư vấn cụ thể. Cảm ơn Luật sư Minh Khuê!

Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Một số ngành, nghề hạn chế thành lập tổ chức kinh tế:

- Hoạt động in của cơ sở in (bao gồm doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đơn vị sự nghiệp công lập trực tiếp thực hiện đầy đủ hoặc từng công đoạn chế bản, in, gia công sau in):

Điều 11 Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/06/2014 cùa Chính phủ quy định về hoạt động in (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ)

"Điều 11. Điều kiện hoạt động của cơ sở in

1. Cơ sở in thực hiện chế bản, in, gia công sau in các sản phẩm quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 4 Điều 2 Nghị định này phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có thiết bị phù hợp để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn chế bản, in, gia công sau in theo nhu cầu, khả năng hoạt động của cơ sở in và đúng với nội dung đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động in hoặc tờ khai đăng ký hoạt động cơ sở in quy định tại Điều 12 và Điều 14 Nghị định này

- Có mặt bằng hợp pháp để thực hiện chế bản, in, gia công sau in

- Có chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam và có người đứng đầu là công dân Việt Nam, thường trú hợp pháp tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ"

Với điều kiện như trên, cơ sở in không thể có vốn (vốn điều lệ, vốn đầu tư hoặc vốn kinh doanh) của nhà đầu tư nước ngoài.

- Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Điều 2 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chinh phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

"Điều 2. Loại hình doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (khoản 4 Điều 8 của Luật)

Doanh nghiệp được xem xét cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Giấy phép) là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam."

Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng không thể có vốn của nhà đầu tư nước ngoài.

- Hoạt động chuyển khẩu hàng hóa:

Điều 18 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý ngoại thương

"Điều 18. Kinh doanh chuyển khẩu

2. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện hoạt động kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa."

​Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện hoạt động kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Một số ngành, nghề hạn chế tỷ lệ sở hữu vốn:

- Hoạt động dịch vụ logistics:

Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics

"Điều 4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

3. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:

Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện sau:

a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):

- Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.

- Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.

b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.

d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

đ) Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

e) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

g) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

h) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

i) Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật

- Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.

- Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.

- Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng."

- Hoạt động sở giao dịch hàng hóa:

Điều 16a Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 51/2018/NĐ-CP ngày 09/04/2018 của Chính phủ)

"Điều 16a. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam

1. Nhà đầu tư nước ngoài có quyền tham gia giao dịch mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam.

2. Nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn thành lập Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam; mua cphần, phần vốn góp của Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam theo quy định sau:

a) Nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn thành lập Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam; mua cổ phần, phần vốn góp của Sở Giao dịch hàng hóa tại Việt Nam với tỷ lệ không quá 49% vốn điều lệ.

b) Nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa với tư cách khách hàng hoặc tham gia làm thành viên của Sở Giao dịch hàng hóa (thành viên môi giới, thành viên kinh doanh) với tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ không hạn chế.

c) Thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và các quy định pháp luật khác có liên quan."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

2. Tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vàng để hạn chế rủi ro

Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá – thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế.

Mặt khác, nhờ đặc tính lý hoá của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể coi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều NHTW và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.

Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT của NHNN. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động theo xu hướng ngày càng tăng và vàng trở thành hàng hóa đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng và hấp thụ một lượng tiền khổng lồ, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành CSTT. Ngoài hoạt động kinh doanh truyền thống, giá vàng tăng mạnh đã thúc đẩy sự hình thành các loại hình kinh doanh vàng với qui mô ngày càng lớn, điển hình là các sàn giao dịch vàng.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn luật đầu tư - Ảnh minh họa

Về hoạt động của các sàn vàng, sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam là sàn giao dịch vàng của Ngân hàng Á Châu, được hình thành vào ngày 25/5/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài gòn và gồm 9 thành viên, là các NHTM và doanh nghiệp kinh doanh vàng quy mô lớn. Từ tháng 12/2007, sàn giao dịch này mở rộng sang các khách hàng cá nhân. Từ đó, khối lượng giao dịch trên sàn đã gia tăng đột biến.

Do nhu cầu tham gia giao dịch vàng của các cá nhân tăng mạnh và sức hấp dẫn về lợi nhuận thu được từ việc tổ chức sàn giao dịch vàng, nhiều NHTM và một số doanh nghiệp kinh doanh vàng đã thành lập các sàn giao dịch vàng như sàn giao dịch vàng của các NHTM Việt Á, Phương Nam, Đông Á, Sacombank, sàn vàng Phố Wall, sàn vàng Thế giới. Hoạt động trên sàn vàng là kinh doanh chênh lệch giá, không phải là hoạt động sản xuất vật chất để tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế nhưng thu hút một lượng vốn khổng lồ với giá vàng biến động thất thường, điều này tiềm ẩn rủi ro rất cao cho cả nhà đầu tư và các đơn vị kinh doanh sàn vàng. Tại thời điểm giao dịch sôi động nhất, sàn giao dịch vàng Sài gòn của Ngân hàng Á Châu thường đạt doanh số trên 8.000 tỷ đồng/ngày. Đến nay, mặc dù hoạt động của các sàn vàng đã chững lại, dư nợ cho vay trên các sàn giao dịch vàng tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh vẫn đạt trên 2.000 tỷ đồng.

Từ năm 2006, kinh doanh vàng không dừng lại ở trong nước, mà tiếp tục vươn ra nước ngoài sau khi nhà nước cho phép các doanh nghiệp kinh doanh vàng được kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài. Đến nay, có 11 NHTM và 8 doanh nghiệp kinh doanh vàng được kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài thời gian qua đã bộc lộ một số nhược điểm như: các đơn vị được phép kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài cũng kinh doanh trên các sàn vàng quốc tế, chính những đơn vị này đã thành lập các sàn giao dịch vàng trong nước, mà thực chất là mua bán vàng trên tài khoản ở trong nước, gây nhiều biến động trên thị trường vàng trong thời gian qua.

Kinh doanh vàng có mức rủi ro rất cao khi giá vàng thế giới biến động thất thường và tăng cao quá mức, nhưng không bền vững do lượng vàng trên thế giới hạn hẹp và vàng chỉ là thị trường nhỏ. Vì thế, một thay đổi nhỏ của giá vàng cũng tạo ra động lượng thay đổi mạnh mẽ trên thị trường vàng thế giới, chẳng hạn sau khi Ấn độ mua 200 tấn vàng từ IMF hay việc Trung Quốc tranh thủ mua vàng khi giá vàng hạ nhiệt sau sự kiện Dubai. Tuy nhiên, giá vàng sau khi vượt qua ngưỡng kháng cự 1.200 USD và lên tới 1.225 USD/oz đã làm dấy lên lo ngại là thị trường này đã tăng quá mức và quá nhanh, gây ra tác động tâm lý về khả năng có những đợt điều chỉnh giảm giá vàng, nếu có tăng thì cũng dè dặt. Mặt khác, chỉ cần một NHTW lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản điều chỉnh lãi suất đến mức độ nào đó là có thể gây hiệu ứng trực tiếp hay gián tiếp đến giá vàng, mặc dù chỉ gây tác động ngắn hạn, nhưng nếu có một thay đổi mạnh nào đó như tăng lãi suất tại Mỹ một cách bền vững thì có thể chấm dứt được chu kỳ đầu cơ.

Về mặt pháp lý, Luật NHNN năm 1997 qui định NHNN có chức năng quản lý hoạt động kinh doanh vàng, nhưng chức năng này còn có sự khác biệt so với Pháp lệnh ngoại hối và các qui định của chính phủ như nghị định 174/1999/CP, nghị định 64/2003/CP, nghị định 59/2006/CP, nghị định 160/2006/CP. Do các qui định pháp lý không điều chỉnh kịp so với yêu cầu phát triển kinh doanh vàng trong điều kiện hội nhập, nên các sàn giao dịch vàng đã tự đề ra quy chế giao dịch riêng và không thể bao hàm đầy đủ những nội dung cần thiết. Nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân chưa nhận biết rõ những rủi ro có thể gặp phải khi kinh doanh vàng trên tài khoản, thời gian qua đã xảy ra những tranh chấp, khiếu kiện giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn vàng.

Theo kết quả rà soát của các cơ quan quản lý nhà nước, việc thành lập và hoạt động của các sàn giao dịch vàng là chưa có cơ sở pháp lý, đồng thời hoạt động của các sàn giao dịch vàng trong thời gian vừa qua tiềm ẩn một số yếu tố có thể gây bất ổn kinh tế – xã hội, điều này đòi hỏi phải có khung khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động kinh doanh vàng nói chung và sàn giao dịch vàng nói riêng.

Vì thế, tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng tổ chức vào cuối tháng 12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu chấm dứt việc tổ chức và thực hiện việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước dưới mọi hình thức, đồng thời giao NHNN chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát lại tất cả các quy định hiện hành về quản lý vàng để trình Chính phủ ban hành thành một qui định đầy đủ về quản lý kinh doanh vàng theo hướng Nhà nước tập trung, thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Trong tình hình hiện nay, giá vàng đã tăng quá mức và tiềm ẩn nhiều rủi ro trong khi chưa có môi trường pháp lý vững chắc về loại hình kinh doanh này, ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ là chỉ đạo đúng đắn và kịp thời, góp phần ngăn chặn rủi ro, ổn định thị trường ngoại hối và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

3. Thành tự và hạn chế của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ?

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn không ít hạn chế. Vì vậy, làm thế nào để thu hút tối đa nguồn FDI vào Việt Nam và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế. Từ một nước có tốc độ phát triển kinh tế chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển cao và ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi:1900.6162

Những thành tựu…

Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (1987) trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn phát triển ở mức rất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, khoa học và công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp và chưa qua đào tạo. Từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư năm 2005) đến nay, FDI đã góp phần tích luỹ vốn và tăng thu ngân sách cho Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006-2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005. Tính đến hết tháng 6.2009, Việt Nam có 10.409 dự án FDI với tổng mức vốn đầu tư đăng ký hơn 164,6 tỷ USD1.

Tạo công ăn việc làm và đào tạo nghề là một trong những đóng góp quan trọng của khu vực FDI. Tính đến năm 2007, doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo việc làm cho trên 1,2 triệu lao động trực tiếp, trong đó nhiều lao động đã được đào tạo ở nước ngoài.

Một trong những đóng góp quan trọng nữa của khu vực FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ qua các doanh nghiệp có vốn FDI luôn đi kèm với đào tạo nhân lực quản lý, vận hành, nhờ đó đã góp phần hình thành một đội ngũ các cán bộ, công nhân có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao. Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ đặc thù, lao động Việt Nam sau khi được tuyển dụng đều được đưa đi bồi dưỡng kỹ thuật và tay nghề tại các công ty mẹ ở nước ngoài. Đến nay, hầu hết các công nghệ tiên tiến và đội ngũ công nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI.

Ngoài ra, FDI cũng góp phần mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tính đến hết tháng 6.2009, đã có 86 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam2. Trong số 96 tập đoàn của 16 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam có 81 tập đoàn đứng trong danh sách “Global 500” do Tạp chí Fortune bình chọn. Các tập đoàn đa quốc gia có khoảng 300 dự án đầu tư tại Việt Nam. Với công nghệ cao, tiềm lực tài chính mạnh, các tập đoàn này đã đầu tư các dự án tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam như: Công nghiệp dầu khí, ngân hàng, công nghiệp điện tử – viễn thông, sản xuất ôtô.

… Và hạn chế

Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI tập trung vào khai thác lợi thế giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên có sẵn, thị trường tiêu thụ dễ tính để lắp ráp, gia công sản phẩm tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các doanh nghiệp có vốn FDI hiện có đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam không thay đổi, trong đó các mặt hàng nông, thuỷ sản, thực phẩm và các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp như dệt may, tạp phẩm chiếm đến 49,4%. Trong khi các ngành chế tạo đòi hỏi công nghệ cao như máy công cụ, chế tạo ôtô, đồ điện tử chỉ chiếm 7,5% so với 54,6% tại các nước Đông á và ấn Độ3. Hơn nữa, sự liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và các doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Do vậy, chưa hình thành được chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng hàng hoá và các ngành công nghiệp phụ trợ. Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam phải nhập khẩu 70-80% lượng sản phẩm phụ trợ4.

Các doanh nghiệp có vốn FDI cũng đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận thời gian qua. Chất thải của công ty VEDAN là một ví dụ tiêu biểu. Rõ ràng là, những hậu quả về môi trường nếu không được xem xét kỹ lưỡng khi quyết định cấp phép đầu tư sẽ làm giảm tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.

Một trong những hạn chế nữa của khu vực FDI là các doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô thị lớn mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả nước, điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và vùng nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi. Hơn nữa, FDI tập trung quá nhiều tại các thành phố lớn sẽ càng gia tăng sức ép cho các đô thị này về dân số, hạ tầng đô thị.

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng FDI

Nhóm giải pháp về chính sách: Cần thu hút và sử dụng có lựa chọn nguồn FDI hơn là chạy theo số lượng, cần tính đến hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững cũng như đảm bảo về môi trường. Hướng FDI vào các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao, các ngành công nghệ cao, ít tiêu tốn năng lượng, không làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thời gian gần đây, đặc biệt từ năm 2007, FDI hướng quá nhiều vào bất động sản, sân golf, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn tới bất ổn cho nền kinh tế. Thực tế khủng hoảng tài chính ở châu á và gần đây ở Mỹ đã chứng minh điều này. Cần tạo ra sự liên kết giữa khu vực FDI với các ngành sản xuất nội địa để tạo ra chuỗi liên kết sản xuất và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển cũng như tạo ra các ngành phụ trợ để hạn chế nhập khẩu các thiết bị hay bộ phận mà Việt Nam có thể tự sản xuất được. Bên cạnh đó, cũng cần có định hướng về quy hoạch phát triển các doanh nghiệp Việt Nam theo lĩnh vực và theo nhóm ngành liên kết với khu vực FDI dựa trên thế mạnh và lợi thế so sánh của từng khu vực và từng địa phương để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI lâu dài.

Nhóm giải pháp về hạ tầng: Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp tại các địa phương, đặc biệt chú trọng hình thành các khu công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài để nâng cao hiệu quả của khu vực FDI. Cần có giải pháp khuyến khích và thu hút FDI vào các địa phương trong cả nước, trong đó chú trọng tìm ra các thế mạnh, lợi thế so sánh của từng địa phương để hướng FDI vào các địa phương và cũng giúp giảm sức ép quá tải về hạ tầng cho các đô thị.

Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực: Giá nhân công rẻ, nguồn nhân lực dồi dào là một lợi thế so sánh của Việt Nam khi thu hút FDI. Nhưng lợi thế này sẽ dần mất đi khi nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy, lợi thế ở nguồn nhân lực sẽ được khai thác ở khía cạnh nhân lực có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao, có kinh nghiệm quản lý, sẵn sàng đáp ứng được với trình độ công nghệ mới và hiện đại. FDI là một kênh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cần chủ động phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam theo hướng chuyên môn hoá, tập trung đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, tay nghề và trình độ quản lý tốt để chủ động hơn, sẵn sàng nắm bắt và tiếp nhận công nghệ ở trình độ cao. Một ví dụ là, Tập đoàn IBM dự định sẽ tuyển 250 chuyên gia công nghệ thông tin vào làm việc tại Trung tâm Dịch vụ toàn cầu của tập đoàn này tại Việt Nam, và Trung tâm này có thể tiếp nhận từ 3.000 đến 5.000 lao động Việt Nam có trình độ cao về công nghệ thông tin vào làm việc. Tuỳ thuộc vào tốc độ phát triển, tập đoàn này tuyên bố có thể tiếp nhận 20.000 lao động có trình độ nếu Việt Nam đáp ứng đủ5. Tuy nhiên thực tế hiện nay, Việt Nam chưa đáp ứng đủ số lượng lao động có trình độ cao theo yêu cầu của khu vực FDI nói riêng và nhu cầu của xã hội nói chung.

Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng bằng những đóng góp cụ thể vào tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế đã chứng minh vai trò quan trọng của FDI trong nền kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên vai trò của FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả và góp phần vào sự phát triển bền vững khi nó được lựa chọn và khuyến khích vào những ngành, những khu vực thật sự cần thiết cho nền kinh tế để đảm bảo tính bền vững cho phát triển lâu dài và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam

4. Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng ở Mỹ: Hạn chế cả quyền lực lẫn tài chính

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ - Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.

Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thàn

Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm

Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

Theo nguyên tắc “trách nhiệm tuyệt đối”, nhà sản xuất, phân phối hay bán lẻ có thể phải chịu trách nhiệm đối với những thương tật do khuyết tật của sản phẩm gây ra, bất kể đã áp dụng các biện pháp đề phòng. Nói chung, khi nói đến trách nhiệm sản phẩm, người ta phân thành 3 loại khuyết tật: khuyết tật sản xuất (khi sản phẩm sai lệch với thiết kế gốc mặc dù đã thực hiện tất cả những biện pháp cẩn trọng trong quá trình sản xuất và marketing); lỗi thiết kế (khi thiệt hại do sản phẩm gây ra có thể tránh hoặc được giảm nhẹ bằng một mẫu thiết kế hợp lý khác); và lỗi cảnh báo không đầy đủ (khi thiệt hại nhẽ ra có thể tránh hoặc giảm nhẹ bằng việc sử dụng những chỉ dẫn hay cảnh báo phù hợp). Mặc dù đây là những cách thông thường nhất để quyết định có hay không khuyết tật sản phẩm, song luật của các bang có thể khác nhau trong việc quyết định khuyết tật sản phẩm..

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa

Bồi thường và nộp phạt gần 370 triệu USD

do lỗi thiết kế kỹ thuật

Một bồi thẩm đoàn ở hạt San Diego (Hoa Kỳ) ngày 3/6/2004 đã ra phán quyết buộc một hãng xe hơi Hoa Kỳ phải trả cho một phụ nữ bị tai nạn khi lái xe do hãng này sản xuất số tiền kỷ lục là gần 369 triệu USD, gồm 246 triệu tiền phạt và 122,6 triệu tiền bồi thường.

Theo luật sư của bên nguyên trong vụ kiện này, một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn thuộc về lỗi kỹ thuật thiết kế xe. Chiếc xe có trọng tâm cao, có khoảng cách giữa bánh xe trước và sau hẹp khiến người lái khó kiểm soát được tay lái trong những lúc quẹo cua gắt.

Vào tháng 1 năm 2002, trên xa lộ liên bang phía đông San Diego, chủ nhân chiếc xe bị tai nạn này đã tránh một chướng ngại vật trên đường và bị mất kiểm soát tay lái dẫn đến xe bị lật mấy vòng. Khi xe bị lật mui xe đã sụp xuống đè lên người nạn nhân làm bà ta bị liệt nửa người.

Không chỉ nhà sản xuất, mà các nhà phân phối và bán lẻ những sản phẩm có khuyết tật cũng có thể bị quy trách nhiệm một cách nghiêm khắc. Trong những trường hợp nhất định, các nhà phân phối và bản lẻ có thể chuyển trách nhiệm cho nhà sản xuất. Do vậy, việc soạn thảo hợp đồng và đơn mua hàng một cách cẩn thận có vai trò quan trọng trong vấn đề này. Nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ có thể được giảm nhẹ hoặc thậm chí miễn trách trong một số trường hợp, ví dụ như trong trường hợp khách hàng sử dụng sai hoặc thay đổi sản phẩm.

Nói chung, theo luật trách nhiệm sản phẩm, “sản phẩm” là một thuật ngữ khá rộng. Tuy nhiên, các dịch vụ đơn thuần không được coi là sản phẩm.

Công ty nước ngoài có thể phải chịu thẩm phán của tòa án Hoa Kỳ về trách nhiệm sản phẩm ngay cả khi công ty đó rất ít làm ăn trực tiếp tại Hoa Kỳ. Ví dụ, một công ty nước ngoài mặc dù không hề có mối liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ, song nếu chi nhánh của nó phân phối các sản phẩm có khuyết tật tại Hoa Kỳ thì công ty đó vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật.

Hàng hóa sản xuất ở nước ngoài bị phát hiện có khuyết tật có khả năng gây hại cho người sử dụng sẽ không được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ hoặc phải thu hồi (nếu như đã bán cho người tiêu dùng) để sửa chữa hoặc thay thế miễn phí. Những trường hợp như vậy chắc chắn sẽ gây tổn hại về kinh tế hoặc bị kiện tụng cho người nhập khẩu, phân phối, hoặc bán lẻ. Để tránh những tổn thất này, chắc chắn các nhà nhập khẩu, phân phối hoặc bán lẻ phải rất cẩn thận trong việc lựa chọn nguồn cung cấp.

Các luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng

Hoa Kỳ có rất nhiều đạo luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng. Mỗi đạo luật được thực thi và giám sát bởi một cơ quan chính phủ liên bang. Sau đây là một số cơ quan và những đạo luật chính liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng.

Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ

Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ (CPSC) là một cơ quan liên bang độc lập được thành lập theo Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSA). Bằng luật này, Quốc hội giao trách nhiệm cho CPSC “bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng”. Không phải tất cả các sản phẩm tiêu dùng đều thuộc thẩm quyền của CPSC, song cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý hơn 15 ngàn loại sản phẩm. Danh mục các sản phẩm này có thể tìm thấy trên trang web của CPSC tại địa chỉ là: www.cpsc.gov/. Trang web này cũng hướng dẫn đầy đủ các yêu cầu của các đạo luật liên quan và cách thử nghiệm sản phẩm để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn qui định. CPSC thực hiện trách nhiệm trên bằng cách:

- Xây dựng các tiêu chuẩn tự nguyện cho các ngành công nghiệp;

- Ban hành và thực thi các tiêu chuẩn bắt buộc;

- Thông báo cho các cơ sở sản xuất biết và hướng dẫn họ thực hiện các yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm thông qua các hình thức như hội thảo hoặc gửi thông báo;

- Cấm các sản phẩm tiêu dùng nếu các sản phẩm đó không có các tiêu chuẩn có tính khả thi để bảo vệ thích đáng công chúng;

- Kiểm tra và đưa ra lệnh thu hồi sản phẩm có khuyết tật hoặc yêu cầu những sản phẩm đó được sửa chữa.

- Tiến hành nghiên cứu về các sản phẩm có thể gây nguy hại;

- Cung cấp thông tin và hướng dẫn người tiêu dùng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chính quyền bang và địa phương, các tổ chức tư nhân, và bằng cách trả lời các câu hỏi của người tiêu dùng.

Dưới đây là một số luật liên bang thuộc thẩm quyền thực thi của CPSC. Mặc dù chưa đủ, song qua các luật này, chúng ta có thể hiểu được những chức năng chủ yếu của CPSC cũng như mối liên hệ của cơ quan này đối với việc sản xuất và phân phối sản phẩm tiêu dùng tại Hoa Kỳ.

Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (Consumer Product Safety Act)

Theo định nghĩa trong CPSA, các sản phẩm tiêu dùng là những vật phẩm hay các bộ phận của những vật phẩm đó được sản xuất, phân phối hoặc có công dụng để sử dụng lâu dài hoặc tạm thời trong và xung quanh hộ gia đình hay khu cư xá, trường học, nơi vui chơi hay những nơi khác. Những sản phẩm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của CPSA bao gồm máy bay, động cơ và thiết bị máy bay, một số loại tàu và thuyền, mỹ phẩm, dược phẩm, súng đạn, thực phẩm, xe động cơ và thiết bị xe động cơ, các loại thuốc trừ sâu và các sản phẩm thuốc lá.

CPSC được phép đề ra các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm liên quan đến sự vận hành, thành phần, nội dung, thiết kế, sản xuất, hoàn tất, đóng gói và dán nhãn. Nguyên tắc chung là nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng là đối tượng của quy định này phải phát hành giấy chứng nhận khảng định hàng phù hợp với các tiêu chuẩn qui định và phải dán nhãn trên sản phẩm ghi rõ ngày và nơi sản xuất sản phẩm, tên và địa chỉ của nhà sản xuất, chứng nhận tuân thủ các luật lệ áp dụng và mô tả ngắn gọn các luật lệ đó.

Hình thức chủ yếu để trừng phạt việc không tuân thủ các quy định của CPSA là từ chối không cho nhập hàng vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, CPSC có thể tiến hành các thủ tục bắt giữ hoặc cảnh báo sản phẩm nếu sản phẩm đó được coi là có thể gây nguy hiểm. Khi CPSC xác định một sản phẩm nguy hiểm, CPSC có thể yêu cầu nhà sản xuất thông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù hợp của sản phẩm đó và yêu cầu nhà sản xuất hoặc phải sửa chữa, thay thế sản phẩm hoặc trả lại tiền cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nhà sản xuất vi phạm luật lệ và có sản phẩm gây tổn thương cho người sử dụng có thể bị phạt về dân sự hay hình sự.

Cũng cần lưu ý rằng việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm của CPSA không có nghĩa là nhà sản xuất được miễn trách đối với người bị sản phẩm làm tổn thương. Tương tự như vây, các nhà xản xuất vẫn phải chịu trách nhiệm về an toàn sản phẩm đối với những mặt hàng không phải tuân thủ các tiêu chuẩn bắt buộc của CPSC.

Thu hồi lò sưởi điện

Ngày 17 tháng 3 năm 2004, CPSC và nhà sản xuất ở Chicago, bang Illinois đã ra thông báo số 04-098 thu hồi 150.000 lò sưởi điện do hãng này sản xuất đã được tiêu thụ ở Hoa Kỳ với giá từ 30 đến 40 USD/chiếc trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 2 năm 2004.

Mặc dù chưa có trường hợp tai nạn nào liên quan đến sản phẩm này được phản ảnh, song CPSC và Công ty đã quyết định thu hồi sản phẩm sau khi phát hiện các mối nối điện bên trong lò sưởi có thể bị lỏng dẫn đến các bộ phận kim loại của lò sưởi có thể bị nhiễm điện gây nguy hiểm cho người dùng. Người tiêu dùng được khuyến cáo không nên tiếp tục dùng sản phẩm này, và liên hệ với Công ty để được sửa chữa miễn phí hoặc thay thế sản phẩm mới.

Phạt do không thông báo khuyết tật sản phẩm

Ngày 7 tháng 6 năm 2001 CPSC đã ra thông báo số 01-167 phạt công ty sản xuất đồ chơi ở Los Angeles 1,1 triệu USD do lỗi không báo cáo về khuyết tật của loại xe đồ chơi có bánh chạy bằng ắc qui. Khuyết tật trong phần điện đã gây cháy, làm bỏng người sử dụng và thiệt hại về vật chất. Sản phẩm này cũng còn có khuyết tật trong hệ thống điều khiển dẫn đến một số xe không dừng lại được và đã đâm vào các vật thể khác gây tai nạn cho người và thiệt hại về vật chất.

Luật liên bang về các chất nguy hiểm (Federal Hazardous Substances Act)

Luật liên bang về các chất nguy hiểm do CPSC giám sát thực thi, quy định về việc dán nhãn những sản phẩm độc hại dùng trong gia đình có thể gây thương tích hoặc bệnh tật đáng kể cho người sử dụng khi sử dụng chúng một cách bình thường và hợp lý. Các chất đó bao gồm các chất độc, chất ăn mòn, chất dễ cháy hoặc nổ, chất gây khó chịu cho người, hoặc chất gây nhậy cảm mạnh. Ngoài các thông tin hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng, nhãn hàng còn phải hướng dẫn các biện pháp sơ cứu nếu xẩy ra tai nạn.

Luật này cũng cho phép CPSC cấm những sản phẩm quá nguy hiểm hoặc độc hại đến mức mà việc thực hiện đầy đủ những qui định về nhãn hàng cũng không bảo vệ được thích đáng người tiêu dùng, trong đó có các loại đồ chơi trẻ em có chứa chất nguy hiểm hoặc gây nguy hiểm do điện, nhiệt, hoặc cơ khí.

Để xác minh việc tuân thủ các quy định của Luật liên bang về các chất nguy hiểm, CPSC có thể điều tra các địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói, kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu. CPSC cũng có thể kiểm tra các phương tiện dùng để vận chuyển hoặc cất giữ các chất nguy hiểm. Các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu về nhãn hàng của Luật liên bang về các chất nguy hiểm sẽ không được nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Nếu sau khi dán lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu, hàng sẽ phải tái xuất nếu không sẽ bị tiêu hủy.

Luật về vải dễ cháy (Flammable Fabrics Act)

CPSC cũng giám sát thực thi Luật về vải dễ cháy. Luật này nghiêm cấm việc nhập khẩu, sản xuất, vận chuyển hay bán các loại quần áo, đồ trang trí nội thất, vải hay các chất liệu liên quan không phù hợp với các tiêu chuẩn phòng cháy do CPSC đề ra. Việc không tuân thủ đạo luật về vải dễ cháy có thể dẫn đến việc tịch thu hay sung công sản phẩm. Ngoài ra, CPSC có thể áp dụng các hình phạt dân sự hoặc hình sự ở mức nhẹ nếu cố ý vi phạm các quy định trong luật về vải dễ cháy.

Luật về an toàn tủ lạnh gia đình (Household Refrigerator Safety Act)

CPSC cũng giám sát thực hiện Luật về an toàn tủ lạnh gia đình. Theo đó, các tủ lạnh gia đình được vận chuyển trong lưu thông thương mại giữa các bang phải có một thiết bị cho phép tủ lạnh được mở từ bên trong. Vi phạm luật này có thể dẫn tới phạt dân sự hay hình sự hoặc cả hai.

Luật về đóng gói phòng ngộ độc (Poison Prevention Packaging Act)

Luật về đóng gói phòng ngộ độc ban hành năm 1970 đưa ra các quy định về dán nhãn và đóng gói những sản phẩm gia dụng có nguy cơ gây tai nạn ngộ độc hay thương tổn nghiêm trọng cho trẻ em và người già. Những sản phẩm thuộc diện điều chỉnh của luật này phải được đóng gói sao cho trẻ em dưới 5 tuổi trong khoảng thời gian hợp lý khó có thể mở hoặc tiếp cận một khối lượng có thể gây nguy hiểm, đồng thời không được khó cho những người lớn bình thường. CPSC có những qui định cụ thể về tiêu chuẩn đóng gói đối với những hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của luật này.

Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm

Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) có nhiệm vụ bảo đảm thực phẩm an toàn và không có độc tố, mỹ phẩm không gây hại, thuốc men, các thiết bị y tế, và các sản phẩm tiêu dùng có phát phóng xạ (như lò vi sóng) an toàn và hiệu quả. Cơ quan này cũng kiểm tra thức ăn cho các vật nuôi trong gia đình và tại các nông trường và quy định các loại dược phẩm dùng cho các súc vật này. FDA thực thi Đạo luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm (Food, Drug and Cosmetic Act – FDCA) và một vài luật khác về y tế cộng đồng. Hàng năm, cơ quan này kiểm tra việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ và bán hàng trị giá khoảng 1 nghìn tỷ USD.

Luật về thực phẩm, dược phẩm, và mỹ phẩm

Luật này không cho phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ bất kỳ sản phẩm nào nếu sản phẩm đó (1) được sản xuất, chế biến hay đóng gói trong những điều kiện không vệ sinh; (2) bị cấm hay hạn chế bán ở nước mà sản phẩm đó được sản xuất hay xuất khẩu; (3) chưa được chấp nhận là một loại thuốc mới; hoặc (4) bị pha trộn hoặc dán nhãn sai. Mặc dù FDA có thể không đưa ra quyết định về việc hàng có đảm bảo các quy định của Đạo luật FDCA hay không trước khi giám định hàng tại cảng đến, song các công ty có thể gửi hàng mẫu tới FDA để FDA kiểm tra xem liệu sản phẩm đó có đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định hay không. Các sản phẩm không tuân theo các quy định của FDA sẽ không được nhập cảng, bị tạm giữ và hủy nếu sản phẩm đó không được tái xuất. Ngoài ra, các hình phạt hình sự có thể được áp dụng.

Luật chống khủng bố sinh học

Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002 (Public Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002), gọi tắt là Luật Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act) được Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush ký ngày 12/6/2002 nhằm tiến hành và áp dụng các biện pháp cần thiết để đối phó với nguy cơ khủng bố nhằm vào nguồn cung thực phẩm cho người và động vật tại Hoa Kỳ.

Theo Luật này, các sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho người và động vật tại Hoa Kỳ sử dụng phải đăng ký cơ sở với FDA. Trong trường hợp có nguy cơ hoặc xảy ra khủng bố sinh học hoặc phát sinh ốm đau do thực phẩm gây ra, các thông tin đăng ký cơ sở sẽ giúp cho FDA xác định địa điểm và nguồn gốc sự kiện và thông báo nhanh chóng đến các cơ sở có thể bị ảnh hưởng

Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA)

Nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ môi trường thiên nhiên: không khí, nước và đất.

Có một số sản phẩm nhập khẩu nằm dưới sự kiểm soát của EPA. Cơ quan này giám sát thực thi Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Control Act) và Luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường (Environmental Pesticide Control Act).

Luật kiểm soát chất độc

Luật này hạn chế việc nhập khẩu các chất có nguy cơ gây nguy hiểm không hợp lý đối với sức khỏe hay môi trường. Luật này xác lập một chương trình quốc gia để bảo vệ con người và môi trường tránh những nguy hại do chất độc gây ra. Luật này cho phép từ chối việc nhập vào Hoa Kỳ bất kỳ chất nào vi phạm đạo luật này. Nếu nhà nhập khẩu không tái xuất, chất độc vi phạm luật có thể bị hủy hay thu giữ, và nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại và phí tổn từ việc hủy chất độc đó. Vi phạm đạo luật kiểm soát chất độc có thể dẫn đến phạt dân sự trên cơ sở thiệt hại được đánh giá hàng ngày hoặc các hình phạt hình sự nếu cố tình vi phạm.

Luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường

Luật này quy định các thủ tục dán nhãn và đóng gói đối với các loại thuốc trừ sâu. Khi nhập khẩu thuốc trừ sâu, người nhập khẩu phải thông báo và gửi mẫu cho Cơ quan bảo vệ môi trường. Hàng bị pha tạp, dán nhãn sai hay vi phạm các quy định khác của luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường sẽ không được phép nhập vào Hoa Kỳ. Vi phạm luật này có thể bị phạt dân sự hoặc phạt hình sự nếu cố tình vi phạm.

Cục quản lý rượu, thuốc lá, và súng cầm tay

Cục quản lý rượu, thuốc lá, và súng cầm tay (ATF) là một cơ quan thực thi pháp luật nằm trong Bộ Tài chính Hoa Kỳ có trách nhiệm giảm tội phạm bạo lực, thu ngân sách, và bảo vệ dân chúng. ATF thực thi các luật và quy định liên bang liên quan đến rượu, thuốc lá, các loại súng cầm tay, chất nổ và chất cháy.

Việc bán hàng, quảng cáo và dán nhãn các đồ uống có cồn (rượu mùi, rượu vang…) được điều chỉnh bởi Luật quản lý rượu liên bang (Federal Acohol Administration Act) do Bộ trưởng Bộ Tài chính giám sát. Các vi phạm được đánh giá hàng ngày và có thể bị phạt dân sự. Các bang cũng có nhiều điều luật riêng đối với những đồ uống này.

Ủy ban thương mại liên bang (FTC)

FTC giám sát thi hành nhiều luật bảo vệ người tiêu dùng và luật chống độc quyền của liên bang. Vai trò của FTC trong việc chống độc quyền là điều tra các chứng cớ về sự độc quyền trên thị trường, trong đó có việc định giá mang tính cưỡng ép. Các luật chống độc quyền về cơ bản là để nhằm kiểm soát việc thủ tiêu cạnh tranh, trong đó có thỏa thuận hạn chế mua bán. FTC tìm cách đảm bảo thị trường trong nước vận hành một cách hiệu quả và có tính cạnh tranh, không bị những hạn chế không chính đáng. FTC thúc đẩy sự vận hành trôi chảy của thị trường bằng cách loại bỏ những hành vi không công bằng hay có tính chất lừa đảo. Nói tóm lại, các nỗ lực của FTC trong vấn đề chống độc quyền là để ngăn các hành động đe dọa đến cơ hội được lựa chọn của người tiêu dùng.

FTC có trách nhiệm giám sát thi hành nhiều luật về dán nhãn để bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có Luật về dán nhãn các sản phẩm len (Wool Products Labelling Act), Luật về dán nhãn các sản phẩm từ da lông thú (Fur Products Labelling Act) và Luật phân biệt các sản phẩm sợi dệt (Textile Fiber Products Indentification Act). Nói chung, những luật này quy định những nguyên tắc cụ thể cho việc dán nhãn sản phẩm. FTC cũng giám sát việc dán nhãn thuốc lá theo Luật về quảng cáo và dán nhãn thuốc lá liên bang (Federal Cigarette Labelling and Advertising Act). Luật này quy định các nhà sản xuất, đóng gói và nhập khẩu phải báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân dân các thành phần của thuốc lá.

Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (DOT) và Cục an toàn giao thông đường cao tốc quốc gia (NHTSA)

Bộ trưởng giao thông vận tải ban hành các tiêu chuẩn an toàn cho việc nhập khẩu các loại xe và thiết bị có động cơ. Tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn là điều kiện tiên quyết cho việc nhập khẩu các loại xe có động cơ vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, luật liên bang đặt trách nhiệm cho các nhà sản xuất phải bồi thường những vi phạm về tiêu chuẩn an toàn cũng như những khuyết tật liên quan đến an toàn được phát hiện sau khi nhập khẩu.

Các loại xe cộ khác như nhà và thuyền di động được điều chỉnh bởi Luật tiêu chuẩn an toàn và xây dựng nhà di động quốc gia và Subtitle II (Vessels and Seamen) thuộc Tille 46 của U.S. Code.

Cục an toàn giao thông đường cao tốc quốc gia (NHTSA) thuộc Bộ Giao thông vận tải Hoa Kỳ, thực hiện các chương trình an toàn theo Luật năm 1966 về an toàn xe có động cơ và giao thông quốc gia và Luật năm 1966 về an toàn trên đường cao tốc. NHTSA cũng thực hiện các chương trình dành cho người tiêu dùng theo Luật năm 1972 về tiết kiệm chi phí và thông tin về xe có động cơ.

An toàn xe hơi ở Hoa Kỳ

Kể từ năm 1960 đến nay, ở Hoa Kỳ đã có trên 40 nghìn vụ (riêng giai đoạn 2000- 2003 là 4.455 vụ) các hãng sản xuất ô tô phải thu hồi sản phẩmcủa mình để thay thế các bộ phận có khuyết tật không đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Bộ Nông nghiệp

Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ giám sát thực thi các quy định về kiểm dịch đối với việc nhập khẩu thực vật và các sản phẩm thực vật, vật nuôi, thịt và gia cầm, các sản phẩm sản xuất từ động vật, trong đó có lông chim và da động vật sống. Các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu phải tuân theo các tiêu chuẩn về cấp, kích cỡ, chất lượng và độ chín. Nhập khẩu các loại chim và động vật sống được kiểm soát rất chặt chẽ và phải tuân theo các quy định về kiểm dịch. Bất kỳ loại chim hay động vật sống nào cũng là đối tượng của Luật về các loài có nguy cơ diệt chủng (Endangered Species Law) và các luật liên quan đến tính hợp pháp của việc bắt, giữ hoặc xuất khẩu chim hoặc động vật.

Luật về bảo đảm bảo hành cho người tiêu dùng

Các công ty quan tâm đến kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết Luật bảo hành Magnuson-Moss (MMWA). Ngoài những luật về bảo hành cho người tiêu dùng ở các bang, luật liên bang này được ban hành nhằm làm cho dễ hiểu hơn và tăng thêm trách nhiệm bảo hành hàng tiêu dùng. Theo luật này, hàng tiêu dùng được định nghĩa là những tài sản cá nhân hữu hình được lưu thông trong thương mại và thông thường được dùng cho cá nhân, gia đình hay hộ gia đình. Bất kỳ người tiêu dùng nào bị thiệt hại do việc người bảo hành không thực hiện nghĩa vụ bảo hành của mình có thể khởi kiện tại tòa án bang hay liên bang.

Ngoại lệ đối với hàng hóa quá cảnh

Những sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ để tái xuất không phải là đối tượng của các luật bảo vệ người tiêu dùng của nước này. Tuy nhiên, những sản phẩm đó phải được dán nhãn là hàng tạm nhập để tái xuất và không có nguy cơ gây thương tổn đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ.

Luật các bang bảo vệ người tiêu dùng

Các doanh nghiệp cũng cần biết rằng sản phẩm của mình có thể là đối tượng của rất nhiều luật và quy định của bang mà trong một số trường hợp có thể còn khắt khe hơn các quy định tương ứng của luật liên bang. Trước khi đưa một sản phẩm nào đó vào một bang cụ thể, việc xem xét cẩn thận các luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng của bang đó là một việc làm rất cần thiết.

Luật Minh Khuê (biên tập)

5. Hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh ?

1. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

Tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi:1900.6162

2. Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

3. Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê