1. Phân biệt Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần?
Trả lời:
| Tiêu chí | Công ty THHH một thành viên | Công ty TNHH hai thành viên | Công ty cổ phần |
| Số lượng thành viên/ cổ đông | Có một thành viên là chủ sở hữu công ty. Thành viên này có thể là tổ chức hoặc cá nhân | Điểm a khoản 1 điều 47 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: "Số lượng thành viên tối thiểu của công ty TNHH hai thành viên là 2, số lượng tối đa là 50." | Điểm b khoản 1 điều 110 quy định: "Số lượng tối thiểu là 3 cổ đông và không giới hạn số cổ đông tối đa" |
| Cấu trúc vốn | Vốn điều lệ không được chia thành các phần bằng nhau | Vốn điều lệ không được chia thành các phần bằng nhau mà theo tỷ lệ vốn góp của các thành viên | Điểm a khoản 1 điều 110 Luật doanh nghiệp 2014: “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần” |
| Người quản lý | Chủ tịch công ty | Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên
| Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác
|
| Chuyển nhượng vốn góp | Nếu công ty TNHH một thành viên chuyển nhượng vốn góp thì sẽ xảy ra 2 trường hợp: - Trường hợp thứ nhất chủ sở hữu chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình cho cá nhân hoặc tổ chức khác thì công ty sẽ phải làm thủ tục thay đổi chủ sở hữu. - Trường hợp thứ hai chủ sở hữu chỉ chuyển nhượng một phần vốn góp cho cá nhân hoặc tổ chức khác thì công ty sẽ phải làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên hoặc công ty cổ phần. | Việc chuyển nhượng phần vốn góp phải đúng theo quy định tại điều 53 Luật doanh nghiệp 2014: "1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 52, khoản 5 và khoản 6 Điều 54 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: a) Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; b) Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán. 2. Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 49 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. 3. Trường hợp chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên trong công ty, công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và đồng thời thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng." | Cổ đông chuyển nhượng phải đáp ứng được điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 điều 110 Luật doanh nghiệp 2014: "Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này" |
| Huy động vốn | Công ty có thể huy động vốn điều lệ bằng cách tăng vốn dựa vào việc chủ sở hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn góp của người khác Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác phải đúng theo quy định tại khoản 3 điều 87 Luật doanh nghiệp 2014 Không được huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần | Công ty có thể huy động vốn điều lệ bằng 2 cách là: Tăng vốn góp của thành viên và tiếp nhận vốn góp của thành viên mới. Việc tăng vốn góp của thành viên và tiếp nhận vốn góp của thành viên mới phải đúng theo quy định tại khoản 2 điều 68 Luật doanh nghiệp 2014 Không được huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần | Căn cứ vào khoản 3 điều 110 và từ điều 122 đến điều 128 Luật doanh nghiệp 2014 quy định thì công ty cổ phần có 2 hình thức huy động vốn là: - Chào bán cổ phần: Gồm có 3 hình thức là chào bán cho các cổ đông hiện hữu, chào bán ra công chúng, chào bán cổ phần riêng lẻ. - Phát hành trái phiếu |
| Cơ cấu tổ chức | Chia làm hai trường hợp: - Trường hợp Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu theo khoản 1 điều 78 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: "Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây: a) Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; b) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên." - Trường hợp Công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu theo khoản 1 điều 85 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: "Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc". | Điều 55 Luật doanh nghiệp 2014 quy định cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên: "Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn 11 thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty" | Khoản 1 điều 134 Luật doanh nghiệp 2014 quy định cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần: " Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác: a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát; b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty." |
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng.
2. Phân biệt các loại hình doanh nghiệp theo luật đầu tư nước ngoài ?
Trả lời:
Sự khác biệt của loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo luật đầu tư nước ngoài trước đây và Luật Doanh Nghiệp tại những nội dung sau:
1. Điểm giống nhau:
a) Việc phân định quyền lợi và trách nhiệm theo tỷ lệ vốn góp:
- Theo Luật Đầu tư nước ngoài (Điều 6, Điều 15): các bên liên doanh hoặc các nhà đầu tư tham gia góp vốn chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn (trừ trường hợp có thỏa thuận khác quy định tại Hợp đồng liên doanh hoặc điều lệ doanh nghiệp).
- Theo luật Doanh Nghiệp (Điều 38, 63): các thành viên hoặc chủ sở hữu của công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp hoặc số vốn điều lệ của công ty.
b) Không được phát hành cổ phần.
2. Điểm khác nhau:
Trong việc tổ chức quản lý doanh nghiệp:
a) Theo Luật Đầu tư nước ngoài:
- Hội đồng quản trị là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp (Điều 11 Luật ĐTNN);
- Hình thức thông qua quyết định của HĐQT bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp HĐQT;
- Nguyên tắc quyết định của HĐQT (Điều 14 Luật ĐTNN)
Đối với những vấn đề quan trọng (bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, Phó Tổng Giám Đốc thứ nhất; sủa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp theo nguyên tắc nhất trí)
Đối với những vấn đề khác theo nguyên tắc đa số thành viên có mặt tại cuộc họp;
b) Theo Luật Doanh Nghiệp:
- Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của Công Ty TNHH hai thành viên trở lên (Điều 47 Luật Doanh Nghiệp);
- Hình thức thông qua quyết định của HĐTV:
+ Biểu quyết tại cuộc họp HĐTV;
+ Lấy ý kiến bằng văn bản;
+ Hoặc hình thức khác quy định tai Điều lệ công ty.
- Nguyên tắc quyết định của HĐTV (Điều 52 Luật Doanh Nghiệp)
- Hình thức biểu quyết tại cuộc họp HĐTV đối với những vấn đề:
+ Sửa đổi, bổ sung điều lệ;
+ Quyết định phương hướng phát triển;
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐTV, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức giám đốc hoặc Tổng Giám đốc;
+ Thông qua báo cáo tài chính hàng năm;
+ Tổ chức lại hoặc giải thể công ty;
Quyết định thông qua đối với từng trường hợp và theo nguyên tắc được ít nhất 65% tổng số vốn góp của thành viên dự họp chấp thuận quy định tại Điều lệ, trường hợp bán tài sản, sửa đổi điều lệ, tổ chức lại công ty đạt ít nhât 75% tổng số vốn góp của thành viên dự họp chấp thuận quy định tại điều lệ;
Hình thức lấy ý kiến bằng văn bản phải được ít nhất 75% tổng số vốn điều lệ chấp thuận quy định tại điều lệ.
Cần lưu ý: kể từ 11/01/2007, những quy định (1) về số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp, (2) về hình thức thông qua quyết định và (3) về các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định hoặc (4) về tỷ lệ đa số phiếu cần thiết để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông do các bên tự thỏa thuận và quy định trong điều lệ công ty phù hợp cam kết của Việt Nam gia nhâp WTO
Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ
Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi:1900.6162
Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
>> Xem thêm: Tư vấn thành lập doanh nghiệp liên doanh
3. Phân biệt doanh nghiệp độc quyền và doanh nghiệp có vốn nhà nước ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162
Nên đặt vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có quy định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, kinh tế kế hoạch chỉ huy – kết hợp các ưu điểm của cơ chế thị trường dưới sự chỉ huy của lý trí “luôn luôn đúng“ của lãnh đạo – không xa lạ. Nền kinh tế kế hoạch chỉ huy thành công nổi tiếng nhất là nền kinh tế của nước Đức phátxít dưới sự lãnh đạo của Hitler. Thời đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức là 0%, Đức quốc xã là nước áp dụng thành công lý thuyết về vai trò kích cầu nhà nước của nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes. Thành quả của nền kinh tế kế hoạch chỉ huy này đã tạo đầy đủ cơ sở vật chất cho Hitler tiến hành chiến tranh thế giới. Điểm đặc biệt nguy hại của một nền kinh tế như vậy là ở chỗ nó luôn phải tự tạo ra các nhu cầu phi thị trường theo ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Với nước Đức phátxít, đó là nhu cầu chuẩn bị và phục vụ chiến tranh.
Dù có một nền kinh tế kế hoạch chỉ huy hoàn hảo đi chăng nữa thì nhà nước vẫn không thể giải quyết được vấn nạn thuộc về bản chất là không thể kiểm soát các DNNN. Nhà nước – do đủ thứ nguyên nhân và quan hệ chồng chéo – không bao giờ có thể có được đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết cho việc kiểm soát toàn diện hoạt động của DNNN.
Kinh nghiệm của rất nhiều nước cũng chỉ ra rằng chỉ có thể lựa chọn dứt khoát hoặc là kinh tế thị trường hoặc là kinh tế kế hoạch chứ không thể kết hợp cả hai. Là thành viên WTO, chúng ta đã không chỉ cam kết xây dựng kinh tế thị trường, mà còn có nghĩa vụ tự do hoá thị trường.
Kinh tế thị trường – thông qua thị trường và cạnh tranh tự do, lành mạnh – giải quyết hiệu quả hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp, của hoạt động kinh tế. Nhưng kinh tế thị trường làm phát sinh những vấn đề xã hội mà không phải lúc nào thị trường cũng có thể giải quyết ổn thoả. Chính là ở đây, nhà nước mới có trách nhiệm, nghĩa vụ và được phép hoạt động thay thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế này của nhà nước phải tuân thủ ba nguyên tắc: (1) Chỉ can thiệp vào nơi và khi thị trường đã tỏ ra bất lực; (2) Nguyên tắc trợ giúp; (3) Hạn chế đến mức thấp nhất tác động làm sai lệch môi trường cạnh tranh, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân.
Trong nền kinh tế thị trường xã hội, nhà nước còn có nghĩa vụ bảo đảm các điều kiện sống có phẩm giá cho người dân.
Trên thực tế, có một số lĩnh vực mà thị trường bất lực không thể đáp ứng nhu cầu người dân vì doanh nghiệp không muốn đầu tư, đầu tư có quá nhiều rủi ro, không hứa hẹn lợi nhuận và việc kinh doanh với mục đích lợi nhuận sẽ gây bất bình đẳng xã hội như: bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động, giao thông công cộng, điện – nước sinh hoạt. Khi đó, nhà nước cũng chỉ can thiệp vào thị trường khi thực sự không còn các tác nhân tại chỗ có thể giải quyết sự bất lực của thị trường tốt hơn. Đây cũng là nguyên tắc phân cấp hoạt động cho cơ quan nhà nước. Hoạt động kinh tế của nhà nước cũng phải tuân theo nguyên tắc chung cho mọi hoạt động của nhà nước: nguyên tắc thoả đáng (có mục tiêu chính danh; thích hợp để đạt mục tiêu; cần thiết; gây ít bất lợi nhất).
Nước nào cũng vậy, vào giai đoạn đầu phát triển kinh tế, giá thành sản xuất trong một số lĩnh vực thiết yếu cho đời sống – chẳng hạn điện, nước – rất cao so với sức mua, không tương xứng với thu nhập của phần lớn người dân; làm tăng chi phí sản xuất và không khuyến khích cạnh tranh hiệu quả của doanh nghiệp. Nhu cầu thiết yếu của phần lớn người tiêu dùng sẽ không được thị trường điện, nước tự do đáp ứng, vì vậy có thể làm nảy sinh các vấn đề gây xáo trộn xã hội. Một mặt, vì nhà nước có nhiệm vụ hiến định phải bảo đảm mức sống ổn định tối thiểu cho người dân, mặt khác nhà nước phải can thiệp ở nơi và khi thị trường bất lực, nên tại đây, nhà nước phải sử dụng công cụ là các DNNN và trao cho nó độc quyền. Nói một cách khác, nhà nước có “nghĩa vụ” sử dụng các DNNN độc quyền trong một số lĩnh vực quan trọng để đáp ứng nhu cầu cần thiết tối thiểu cho hoạt động xã hội và cuộc sống người dân. Những lĩnh vực này cần do Quốc hội quy định (nhưng phải phù hợp với tiêu chí của WTO), chúng có thể là: điện, nước, giao thông công cộng, bưu điện… DNNN độc quyền có mục đích và hoạt động khác về cơ bản với doanh nghiệp thông thường.
Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường cũng có nghĩa là phải chuyển đổi toàn bộ các DNNN không độc quyền hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế kế hoạch cũ thành những doanh nghiệp thông thường không hoạt động theo chỉ đạo của nhà nước mà theo điều khiển của chủ sở hữu phù hợp các quy luật của thị trường.
Vì thế, nên đặt vấn đề cải cách DNNN trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có quy định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước. Theo đó:
DNNN độc quyền sẽ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận hay là nguồn thu ngân sách, mà là đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân, của xã hội. Trước mắt, cần có luật về hoạt động của các DNNN độc quyền phù hợp với các đặc trưng được WTO công nhận đã nói ở trên. Quốc hội sẽ quyết định các lĩnh vực nào là thiết yếu, trọng tâm đối với đời sống người dân, xã hội mà DNNN được độc quyền. Về lâu dài, cần xác định rõ DNNN độc quyền chỉ là giải pháp tình thế. Ngay khi sức mua (thu nhập bình quân đầu người) tăng đến mức hấp dẫn doanh nghiệp tư nhân và khi môi trường kinh doanh đủ điều kiện cho cuộc cạnh tranh hiệu quả giữa các doanh nghiệp để hạ giá sản phẩm thiết yếu, thì phải từ bỏ độc quyền của DNNN, mở cửa thị trường cho doanh nghiệp tư nhân.
Cần nhanh chóng xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước. Dứt khoát – trên cơ sở luật định – đối xử với các doanh nghiệp này hoàn toàn bình đẳng như các doanh nghiệp tư nhân khác, đặc biệt trong việc tiếp cận vốn, bảo lãnh vay vốn, cấp đất, giải quyết nợ nần, phá sản và cạnh tranh.
Được như vậy, ta có cơ sở vững chắc, rõ ràng, minh bạch để từng bước giải quyết tốt các vấn nạn như “quyền sở hữu chủ – quyền quản lý”, “cha chung không ai khóc”, “ưu đãi theo chỉ thị” và kinh doanh không hiệu quả của DNNN hiện nay.
4. Phân biệt hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp tại Việt Nam ?
Theo khoản 5 Điều 3, “nhà đầu tư nước ngoài” là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam gồm doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh Nghiệp; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước khi Luật Đầu Tư có hiệu lực; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú tại Việt Nam và các tổ chức theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa
Theo khoản 2 của Điều này, “đầu tư trực tiếp” là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
Và khoản 3 của Điều này quy định “đầu tư gián tiếp” là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy, “đầu tư trực tiếp” và “đầu gián tiếp” phân biệt theo 2 đặc điểm chính của hình thức bỏ vốn và quản lý, cụ thể là:
| Tiêu chí | ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP | ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP |
| 1.Hình thức bỏ vốn | - Góp vốn - Vay vốn | - Mua cổ phần, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác - Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán - Thông qua các định chế tài chính trung gian khác |
| 2.Hình thức quản lý | trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư | - Không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư |
2. Về pháp luật điều chỉnh:
2.1.Đối với “đầu tư trực tiếp”, trường hợp “nhà đầu tư nước ngoài” là doanh nghiệp:
Thủ tục hồ sơ thành lập doanh nghiệp (hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn/hoặc công ty cổ phần/hoặc công ty hợp doanh) theo quy định của luật doanh nghiệp, của Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn một số diều của Luật Đầu tư và các văn bản có liên quan;
Thủ tục nộp hồ sơ dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiếp và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu Tư, Luật chuyên ngành và các văn bản có liên quan.
2.2.Đối với “đầu tư gián tiếp”:
(i).Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam, theo đó, không thay đổi pháp nhân, không thay đổi vốn (tài sản) doanh nghiệp, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp và như vậy, không phải thực hiện công đoạn thành lập doanh nghiệp; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh Nghiệp và Chương V Nghị định số 88/2006/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan.
(ii).Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam, theo đó thay đổi chủ sở hữu, không thay đổi pháp nhân và vốn (tài sản) của doanh nghiệp.
Như vậy, không phải thực hiện công đoạn thành lập doanh nghiệp, nhưng thay đổi chủ sở hữu; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh về các thủ tục có liên quan theo quy định của luật Doanh Nghiệp và Nghị định số 88/2006/NĐ-CP; nhà đầu tư nước ngoài báo cáo cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Điều 40 của Nghị định 108/2006/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(iii).Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Điều 51, 52 Nghị Định 108/2006/NĐ-CP tại Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Điều 40 của Nghị định này.
Câu hỏi 2: Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp 2005 là khung luật pháp, chính sách về điều kiện đầu tư, kinh doanh áp dụng chung đối vơi doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đề nghị cho biết những quy định áp dụng riêng đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam?
Luật Đầu tư 2005 khẳng định nguyên tắc bình đẳng, đảm bảo quyền chủ động, tự quyết định của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư và từng bước thống nhất điều kiện đầu tư, kinh doanh áp dụng chung đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, để phù hợp với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp đặc thù của nhà đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư quy định một số nội dung áp dụng riêng đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam khác biệt so với dự án đầu tư trong nước, cụ thể về 6 quy định sau:
1. Về lĩnh vực đầu tư có điều kiện
2. Về thẩm quyền chấp thuận cấp Giấy chứng nhận đầu tư
3. Quy định áp dụng riêng cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc lập tổ chức kinh tế
4. Về thủ tục đầu tư
5. Về đầu mục hồ sơ dự án đầu tư
6. Về địa điểm thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh
Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ
Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162
Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê