Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy giúp tôi phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản – quốc gia phát triển trong lĩnh vực pháp luật và cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài? Tình hình đầu tư của Nhật Bản vào Việt nam như thế nào? Nguyên nhân tại sao có xu hướng như vậy?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam

Liên quan đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1987, sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992 định nghĩa: “đầu tư nước ngoài” là “việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này” (khoản 3 Điều 2).

Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996), sửa đổi, bổ sung năm 2000 định nghĩa “đầu tư nước ngoài” là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” (khoản 1 Điều 2).

Như vậy, việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh theo các hình thức được Luật này cho phép, thực chất chỉ là các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, trong khi nhiều hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài khác như các doanh nghiệp đặt chi nhánh hay văn phòng đại diện hoặc các hoạt động đầu tư gián tiếp thì đều không được pháp luật điều chỉnh. Cho đến khi Luật Đầu tư của năm 2005 được ban hành thì phạm vi điều chỉnh mới được mở rộng thành các hoạt động đầu tư chung, gồm cả việc thực hiện đầu tư ở trong nước và của nước ngoài. Luật đã đưa ra định nghĩa “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 3).

Đến Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài đã không còn xuất hiện nữa mà chỉ còn duy nhất một khái niệm đó là “Đầu tư kinh doanh”. Cụ thể đầu tư kinh doanh được quy định tại điều 3 như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

5. Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư..."

=> Như vậy, theo Luật đầu tư năm 2014 này, hoạt động đầu tư chính là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốh góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3). Định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2014 là “cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (khoản 14 Điều 3).

Như vậy, định nghĩa về “đầu tư” theo các luật trên chỉ nêu các loại hình bỏ vốn đầu tư được phép thay vì xác đỊnh cả mục đích, kết quả của quá trình này. Cùng vối đó, đầu tư nưốc ngoài được xác định dựa vào yếu tô' nước ngoài của quốc tịch người sở hữu tài sản đầu tư.

Pháp luật quốc tế xác định đầu tư nước ngoài theo các cách khác nhau, tùy vào mục đích của các điều ước/thỏa thuận quốc tế. Đối với các hiệp định về dịch chuyển vốh, nguồn lực qua biên giới, đầu tư nước ngoài gắn vói yếu tố kiểm soát việc sử dụng vốn đầu tư của nhà đầu tư nưốc ngoài. Trong khi đó, các điều ước quốc tế về đầu tư thường quy định rộng dựa trên yếu tố tài sản; theo đó, đầu tư là “bất kỳ loại tài sản nào”. Có một số điều ưóc quốc tế đưa ra danh mục tài sản đầu tư như:

- Động sản, bất động sản và quyền về tài sản như thế chấp, thế nợ, cầm cố;

- Cổ phần, cổ phiếu, trái khoán hoặc quyền lợi về tài sản của các công ty;

- Quyền đòi tiền hay đòi thực hiện theo hợp đồng có giá trị tài chính;

- Các quyền về sở hữu trí tuệ;

- Các hợp đồng nhượng quyền kinh doanh.

Việc liệt kê hết các tài sản thuộc phạm vi bảo hộ của điều ước quốc tế về đầu tư đem lại sự chắc chắn về mặt pháp lý cho các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, cách quy định này lại không linh hoạt để mở rộng cho các loại tài sản đầu tư mới có thể phát sinh trong tương lai, bỏ sót những hình thức đầu tư mới mà nước nhận đầu tư muôn thu hút trong chiến lược phát triển của mình. Ngoài ra, các bên ký kết phải đàm phán lại nếu muốh đưa bổ sung vào phạm vi bảo hộ của điều ước quốc tế các khoản đầu tư như vậy. Chính vì vậy, nhiều điều ước quốc tế về đầu tư chỉ nêu minh họa các tài sản đầu tư còn vẫn áp dụng chung với mọi loại tài sản thỏa mãn các tiêu chí khác về đầu tư nước ngoài.

Một yêu cầu thường gắn với đầu tư nước ngoài trong pháp luật quốc tế là phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và quy định của nước nhận đầu tư. Các quốc gia có thể thỏa thuận thêm là khoản đầu tư phải được phê duyệt bằng văn bản rõ ràng.

Ví dụ, Điều 1 của Hiệp định đầu tư song phương giữa Malaixia và Các tiểu Vương quốc Ả Rập thông nhất (UAE) quy đỉnh đầu tư vào Malaixia là “khoản đầu tư được phê duyệt” và đầu tư được bảo hộ là “các khoản đầu tư được các cơ quan có thẩm quyền của UAE chấp thuận và phân loại là đầu tư theo pháp luật và quy định của nước nhận đầu tư”. Ngoài ra, các hiệp định đầu tư còn nêu rõ hình thức đầu tư nếu có thay đổi sẽ vẫn được bảo hộ. Thu nhập từ đầu tư nước ngoài cũng được bảo hộ bằng việc bảo đảm quyền tự do chuyển nhượng các khoản lợi nhuận ra khỏi nước nhận đầu tư.

Như vậy, đầu tư nước ngoài nhìn từ góc độ pháp lý khác với khái niệm đầu tư trong kinh tế. Định nghĩa đầu tư trong pháp luật có thể không bao hàm một số loại hình đầu tư có trong thực tiễn. Khi đưa vào văn bản pháp luật ở cấp độ quốc gia hay quốc tế một định nghĩa đầu tư nước ngoài, các quốc gia xác định loại hình tài sản nước ngoài mà mình muốn thu hút và có thể được bảo hộ. Việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế phải dựa trên cơ sở các cơ chế có trong văn bản pháp luật liên quan và chỉ thực hiện đối với những khoản đầu tư được bảo hộ theo các văn bản đó.

 

 

2. Pháp luật Nhật Bản về đầu tư nước ngoài

Nhật Bản không có một bộ luật nào quy định toàn diện về đầu tư nước ngoài. Theo Điều 94 Hiến pháp Nhật Bản, chính quyền địa phương có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, duy trì trật tự công cộng hoặc bảo vệ người tiêu dùng.

Đạo luật quốc gia quan trọng nhất liên quan đến đầu tư nước ngoài là Luật Ngoại hối và ngoại thương (FEFTL) ban hành năm 1992 và sửa đổi vào năm 1998. Luật này có các quy định điều chỉnh nhiều khía cạnh trong hoạt động đầu tư nước ngoài và tập trung vào các quy định về giao dịch vôh quốc tế và giao dịch ngoại hổỉ. Trước năm 1992, các giao dịch liên quan đến đầu tư nước ngoài phải được cấp phép hoặc phê duyệt trước, nhưng sau khi FEFTL được sửa đổi, thủ tục thông báo trưổc được thay thê bằng thủ tục báo cáo sau. Theo đó, bản báo cáo sau phải được gửi cho Bộ trưởng Bộ Tài chính và các Bộ trưỏng có thẩm quyền khác, thông qua Ngân hàng Nhật Bản. Tuy nhiên, trong trường hợp đầu tư nước ngoài ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, hoặc cản trở việc duy trì trật tự công của Nhật Bản vẫn phải được thông báo trước (Điều 2 FEFTL, FEFTL Arts.27(l), 27(3)(i)(a) and (b); Art. 3(2) of the Cabinet Order).

Theo đó, các khoản đầu tư nước ngoài thuộc bốn nhóm sau cần phải được thông báo trước:

- An ninh quốc gia: máy bay, vũ khí, năng lượng hạt nhân, tàu vũ trụ và thuốc súng;

- Trật tự công: điện, khí đốt, cung cấp nhiệt, viễn thông, phát sóng, nước, đường sắt và vận tải hành khách;

- An toàn công cộng: hóa chất sinh học, dịch vụ bảo vệ;

- Quản lý nền kinh tế: các ngành công nghiệp chủ yếu, dầu, da, vận chuyển hàng không và hàng hải.

Điều 9 FEFTL trao cho Bộ trưởng có thẩm quyền ra lệnh đình chỉ các giao dịch và hoạt động hoặc thanh toán trong tình huốhg các điều kiện kinh tế quốc tế thay đổi mạnh.

Ví dụ: các Bộ trưởng có thẩm quyền ra lệnh tạm thời đóng cửa thị trường ngoại hối Tokyo, từng diễn ra ba lần trong giai đoạn 1972-1974. Điều 10 FEFTL quy định Nội các Nhật Bản quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh của Nhật Bản.

Bên cạnh FEFTL, khung pháp lý trong nước dành cho nhà đầu tư nước ngoài tại Nhật Bản còn bao gồm Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh và chống độc quyền, Luật Chứng khoán, các quy định bảo vệ người tiêu dùng và trách nhiệm của nhà sản xuất, sức khỏe và an toàn, bao gồm tiêu chuẩn sản phẩm và ghi nhãn, an toàn thực phẩm và cấp phép dược phẩm, cùng nhiều luật khác. Ví dụ: Điều 17 Luật Khai thác quy định, chỉ công dân Nhật Bản mối có quyền khai thác mỏ và các nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư vào các hoạt động khai thác thông qua các công ty Nhật Bản.

Trong những năm qua, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đến Nhật Bản. ở phạm vi quốc tế, Nhật Bản đặt mục tiêu kết thúc các cuộc đàm phán ký kết TPP sớm và đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc trong Hiệp định đối tác kinh tế Nhật - EU năm 2016.

Ở phạm vi quốc gia, Nhật Bản bắt đầu giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hiệu quả trong năm 2013 và sẽ giảm tỷ lệ xuống còn 20% đến 29% trong vài năm tới, cải cách thuế doanh nghiệp sẽ khiến môi trường đầu tư tại Nhật Bản có tính cạnh tranh quốc tế. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn tiến hành nhiều cải cách để thu hút nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ y tế, năng lượng, bằng cách ban hành Luật Bảo vệ tên các sản phẩm và thực phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thủy sản với hệ thống bảo vệ chỉ dẫn địa lý (Hệ thống GI).

Hệ thống này cho phép các nhà sản xuất các sản phẩm trong khu vực và bảo vệ thương hiệu của riêng họ, Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp chống sử dụng thương hiệu trái phép (Theo Expressed by Shinzo Abe, Prime Minister, in a public meeting on 24 February 2015).

 

3. Cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài

Nhật Bản ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương, khu vực và đa phương về đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh các hiệp định và Hiệp ước Hiến chương năng lượng, Nhật Bản đã phát triển chương trình ký kết BIT và chuyển sang ký kết nhiều FTA (hoặc EPA) trong thập kỷ qua (Nhật Bản đã ký kết 15 thỏa thuận hợp tác kinh tể). Trong số 29 BIT mà Nhật Bản tham gia, chỉ có 09 BIT được ký kết trong giai đoạn 1977-2001 và kể từ năm 2002 Nhật Bản bắt đầu ký kết các BIT thế hệ mới, như BIT giữa Nhật Bản - Hàn Quốc năm 2002 và BIT giữa Nhật Bản - Việt Nam năm 2003. Hầu hết các điều ước quốc tế về đầu tư của Nhật Bản có nội dung chính bao gồm: định nghĩa và giải thích thuật ngữ, ưu đãi và bảo hộ đầu tư, nghĩa vụ đốỉ xử tôì huệ quốc, quốc hữu hóa hoặc tước quyền sỏ hữu và bồi thường, chuyển vấn, minh bạch, ủy thác và giải quyết tranh chấp.

Việc mở rộng ký kết các điều ước quốc tế về đầu tư của Nhật Bản được nhận định là tương đối muộn và hạn chế so với các quốc gia xuất khẩu FDI khác, như Cộng hòa Liên bang Đức, có lẽ một phần vì Nhật Bản chưa xây dựng được BIT mẫu. Dù vậy các điều khoản trong các điều ước quốc tế về đầu tư gần đây của Nhật Bản được nhận định là có nhiều sửa đổi và phục vụ lợi ích cho các ngành công nghiệp mạnh của nước này, đáp ứng được mong muốh của các nhà kinh doanh.

Trong khi đó, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công thương cũng đóng một vai trò rất quan trọng đặc biệt là trong các hoạt động của Chính phủ hoặc công ty Nhật Bản thuộc quyền quản lý của cơ quan này (như khai thác mỏ và khoáng sản) và các BIT.

Đối với các FTA bao gồm vấn đề thương mại và các vấn đề khác, các bộ, ngành khác có thẩm quyền trong vấn đề nào sẽ có quyền tham gia (như Bộ Nông nghiệp). Trong những năm gần đây, Ban thư ký Nội các đóng vai trò chủ đạo trong việc thiết lập hướng chiến lược tông thể và tạo động lực trong quá trình nghiên cứu và đàm phán.

 

4. Tình hình đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến tháng 6 năm 2015, đã có 103 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với 18.529 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 257,8 tỷ USD. Trong đó, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn thứ 2 vào Việt Nam với 2.661 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư là 37,7 tỷ USD, chỉ sau Hàn Quốc. Hiện nay, đầu tư của các Tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Nhật Bản tại Việt Nam đang có dấu hiệu chững lại, xu hướng tập trung nhiều vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 2014, vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam giảm 65%, từ mức 5,87 tỷ USD (2013) xuống còn 2,05 tỷ USD năm 2014. Với đà giảm này, xét về đối tác đầu tư vào Việt Nam năm 2014, Nhật Bản tụt xuống vị trí thứ 4 sau Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore. Đây cũng là vị trí thấp nhất của các nhà đầu tư Nhật Bản sau nhiều năm chiếm vị trí quán quân và á quân. Còn tính riêng 6 tháng đầu năm 2015, Nhật Bản cũng chỉ xếp thứ 5/48 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với gần 496,4 triệu USD, chỉ chiếm 9% tổng số vốn FDI và bằng 61,6% tổng số vốn FDI cùng kỳ năm trước.

- Nếu tính riêng theo số dự án cấp mới và tăng vốn thì trong 6 tháng đầu năm 2015 Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam 131 dự án mới với tổng vốn đăng ký là 280 triệu USD và 61 dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 216 triệu USD. Như vậy, mặc dù số lượng dự án tăng nhưng lại giảm tới gần 40% giá trị vốn so với cùng kỳ năm ngoái (6 tháng đầu năm 2014 đạt hơn 806 triệu USD). Điều này cho thấy, dự án đầu tư mới của Nhật Bản vào Việt Nam chủ yếu vẫn là các dự án nhỏ, giống như xu hướng của năm 2013 và 2014.

- Các dự án của Nhật Bản được triển khai trên 18 ngành, lĩnh vực, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực Nhật Bản có thế mạnh và tăng cường tìm cơ hội đầu tư ra nước ngoài như công nghiệp chế biến chế tạo với 1.375 dự án với tổng số vốn đầu tư là 31,4 tỷ USD (chiếm 83,3% tổng vốn đầu tư), tiếp đến là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với tổng vốn đầu tư là 1,66 tỷ USD (chiếm 4,4% tổng vốn đầu tư); đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với tổng số vốn đầu tư là 1,17 tỷ USD (chiếm 3,1% tổng vốn đầu tư). Còn lại thuộc về các ngành, lĩnh vực khác.

- Nhật Bản đã đầu tư vào 49/63 tỉnh thành phố trong cả nước. Trong đó Thanh Hóa thu hút nhiều vốn đầu tư từ Nhật Bản nhất với tổng vốn đăng ký là 9,68 tỷ USD (chiếm 26% tổng vốn đầu tư). Đứng thứ hai là Hà Nội với 636 dự án, với với tổng vốn đầu tư là 4,08 tỷ USD (chiếm 10,9% tổng vốn đầu tư). Bình Dương đứng thứ 3 với tổng số vốn là 3,85 tỷ USD (chiếm 10,3% tổng vốn đầu tư) còn lại là các địa phương khác.

 

5. Xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới

Đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam có khả năng tăng lên trong giai đoạn tới do một số nguyên nhân như sau:

- Thứ nhất, các doanh nghiệp Nhật Bản phải đối mặt với chi phí lao động ngày càng tăng cao cũng như việc giảm ưu đãi của chính phủ Trung Quốc đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này khiến các công ty Nhật thay đổi chiến lược bằng cách chuyển các khoản đầu tư trực tiếp hướng tới các nước ASEAN với thị trường lớn và nhân công giá rẻ như Việt Nam, Indonesia, Philippines, Myanmar...

- Thứ hai, Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số đứng thứ 3 trong khối ASEAN, lại có lượng lao động trẻ, vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên phong phú, chính trị ổn định nên Việt Nam luôn được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá là quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn. Theo khảo sát thường niên của JETRO năm 2014, có tới 30% doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ra nước ngoài đang cân nhắc Việt Nam như một lựa chọn hàng đầu, vượt qua “các đối thủ lớn nhất trong cạnh tranh thu hút vốn đầu tư” là Indonesia, Thái Lan và Philippines và tới 70% doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam có ý định mở rộng sản xuất và kinh doanh tại đây.

- Thứ ba, cam kết đối tác chiến lược và việc thực thi chính sách thu hút đầu tư từ Nhật Bản như xây dựng và phát triển khu công nghiệp chuyên sâu về công nghiệp phụ trợ ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Hải Phòng sẽ phát huy tác dụng trong thời gian tới. Đầu tư của các công ty Nhật Bản chủ yếu vẫn tập trung vào các ngành công nghiệp và xu hướng này cũng nhất quán với FDI của Nhật Bản tại Việt Nam. Công nghiệp là ngành thu hút được phần lớn vốn FDI, trong đó các ngành công nghiệp nặng thu hút lượng vốn lớn hơn nhiều so với các ngành công nghiệp nhẹ. Ngành xây dựng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong vốn FDI của Nhật Bản; đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ còn nhỏ, đặc biệt đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp chưa được chú trọng đầu tư nhiều.

Hiện nay xu hướng đầu tư từ Nhật Bản là tập trung vào các dự án có quy mô vừa và nhỏ, do vậy tổng vốn đầu tư cấp mới có thể giảm trong ngắn hạn. Theo báo cáo của JETRO, nguyên nhân bao gồm các vấn đề nội tại của cả Nhật Bản và Việt Nam, cụ thể như sau:

- Về phía Nhật Bản, nguyên nhân là do nhu cầu lớn về tái thiết, xây dựng lại các khu vực sau thảm họa động đất sóng thần và chính sách phát triển mới của Chính phủ mới của Nhật Bản là kêu gọi các doanh nghiệp Nhật đẩy mạnh đầu tư kinh doanh ở trong nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm. Theo đó, Chính phủ Nhật đã chủ động dùng các biện pháp nới lỏng tiền tệ, giảm giá đồng Yên. Điều này lại gây khó khăn cho các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ra nước ngoài khi chi phí vốn tăng lên nên nhiều nhà đầu tư Nhật có tâm lý chờ đợi tỷ giá cải thiện.

- Thứ hai, báo cáo cũng cho rằng lượng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản đã chạm đáy vì lợi nhuận thị trường của các nước nhận đầu tư đang ngày càng khó khăn do gặp phải cạnh tranh từ các nhà đầu tư khác trong đó có Hàn Quốc, EU, Mỹ. Hiện các doanh nghiệp Nhật Bản đang chuyển hướng tăng cường đầu tư vào Campuchia, Myanma ở các lĩnh vực khai khoáng, dịch vụ bán lẻ… vì đây là thị trường có mức sinh lợi cao hơn.

- Về phía Việt Nam, môi trường kinh doanh còn nhiều điểm cản trở như các chính sách thiếu tình đồng bộ, thủ tục hành chính còn nhiều quan liêu, chi phí thuế cao, còn tồn tại tham nhũng tại các dự án đầu tư có liên quan đến ODA và tác động của các chính sách tăng lương, cải cách luật pháp ... Cụ thể, theo báo cáo, có tới 60% các doanh nghiệp nước này đang đầu tư tại Việt Nam cho rằng, chi phí lao động tăng nhanh, thủ tục hành chính phức tạp, chính sách thiếu minh bạch… đang ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư kinh doanh của họ tại Việt Nam.

- Một nguyên nhân nữa đang ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam là ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, làm cho tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trong khu vực. Theo kết quả điều tra về các doanh nghiệp Nhật Bản, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam mới đạt 32,2%, thấp hơn rất nhiều mức 64% tại Trung Quốc, 53% tại Thái Lan, 42% tại Malaysia và 41% tại Indonesia… Còn theo báo cáo mới cập nhật của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thì chỉ có 36% doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới phát triển toàn cầu, thấp so với gần 60% ở Malaysia và Thái Lan. Chi phí nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu vào Việt Nam ước tính lên đến 90% giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế tác của Việt Nam ra nước ngoài.

- Kinh tế Việt Nam từ năm 2012 đến nay vẫn chưa trở lại mức tăng trưởng tốt như các năm trước nên nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đợi kinh tế có dấu hiệu tích cực mới quyết định đầu tư mở rộng. Điều này lý giải vì sao số dự án đầu tư mới của Nhật Bản vào Việt Nam không giảm nhiều nhưng số vốn đầu tư mở rộng lại giảm khá mạnh.

Tóm lại. Tiềm năng thu hút vốn đầu tư FDI từ Nhật Bản có nhiều yếu tố thuận lợi từ cả phía Nhật Bản và Việt Nam. Nhật Bản có khoảng 4,7 triệu doanh nghiệp SMEs, chiếm 99,7% tổng số doanh nghiệp tại Nhật, có công nghệ kỹ thuật hiện đại và đang có xu hướng đầu tư ra nước ngoài trong khi Việt Nam đang có nhu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ và thu hút đầu tư của các doanh nghiệp SMEs. Những tồn tại, yếu kém liên quan đến môi trường đầu tư, công nghiệp phụ trợ, trình độ người lao động (năng suất, kỹ năng) là những vấn đề lớn mà Việt Nam hiện đang và sẽ phải tiếp tục khắc phục để nâng cao hiệu quả thu hút FDI từ các nước nói chung và từ Nhật Bản nói riêng.

- Trong thời gian tới, một số lĩnh vực đầu tư mà các nhà đầu tư Nhật Bản có thể sẽ tiếp tục đầu tư mạnh vào Việt Nam là ngành dược phẩm và hóa chất, sản xuất thép và kim loại, máy móc chung và máy móc điện tử, thiết bị trong ngành giao thông, bán buôn và bán lẻ, tài chính và bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, dịch vụ. Riêng nông nghiệp cũng là ngành có nhiều tiềm năng do Nhật Bản là quốc gia phát triển nông nghiệp trình độ cao, có nhu cầu đầu tư ra ngoài do quỹ đất tại Nhật còn hạn chế và giá nhân công cao. Việt Nam lại có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng rất phong phú, phù hợp cho các nông sản phẩm của Nhật Bản.

Về dài hạn, chiến lược CNH-HĐH đến năm 2020 tầm nhìn 2030, trong khuôn khổ hợp tác với Nhật Bản đã xác định tập trung phát triển 6 ngành là: (i) điện tử; (ii) máy nông nghiệp; (iii) chế biến nông, thủy sản; (iv) môi trường và tiết kiệm năng lượng; (v) sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô;(vi) đóng tàu.

- Một số cơ quan thuộc Chính phủ Nhật Bản có chức năng hỗ trợ đầu tư của các doanh nghiệp ra nước ngoài mà các Bộ ngành địa phương có thể hợp tác trong quá trình xây dựng kế hoạch XTĐT cũng như xúc tiến, tiếp cận trực tiếp đến các doanh nghiệp Nhật Bản gồm: Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật bản (JETRO), Liên đoàn Kinh tế Nhật Bản (Keidanren), Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JBAV), Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh (JBAH), Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (JCCI), Liên đoàn Kinh tế vùng Kansai (KanKeiren), Liên đoàn kinh tế vùng Kyushu (Kyukeiren), Bộ phận hỗ trợ các Doanh nghiệp Nhật Bản - Japan Desk (tại Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)...

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).