1. Khái quát chung về hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.

2. Thành viên Hội đồng quản trị

Là người quản lý doanh nghiệp, thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp;
- Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác.
Tiêu chuẩn để trở thành thành viên Hội đồng quản trị hầu như không có nhiều thay đổi. Cụ thể:
- Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp.
- Là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người khác có trinh độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
Đây là các điều kiện được áp dụng trong các công ty cổ phần, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Ngoài ra, đối với hai trường hợp sau đây, cần lưu ý:

Nhiệm kỳ hội đồng quản trị ltrong công ty cổ phần là bao nhiêu năm theo luật mới?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

Thứ nhất: Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị không được là vợ hoặc chông, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng Giám đốc và người quản lý khác của công ty; không được là người có liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ .
Thứ hai: Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020, tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh của mình mà các bên có thể lựa chọn cấu trúc quản trị theo mô hình 1 hoặc mô hình 2. Trong trường hợp các bên lựa chọn mô hình 2 - mô hình không có Ban kiểm soát thì trong công ty bắt buộc phải có ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị.
Trong trường hợp này, các thành viên độc lập sẽ thực hiện các chức năng của Ban kiểm soát như trong mô hình 1. Do vậy, nhằm bảo đàm rằng các thành viên độc lập này không mang tính hình thức, ngoài việc đáp ứng các điều kiên của một thành viên Hội đồng quản trị, họ còn phải đáp ứng thêm một số điều kiện khác. Cụ thể:
- Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó.
- Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;
- Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;
- Không phải là người trực tiếp hoặc giản tiếp sở hữu ỉt nhất 1% tổng sổ cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;
- Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó.

3. Nhiệm kỳ Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp năm 2020

Hội đồng quản trị có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, số thành viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định.
Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm; thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Hội đồng quàn trị có từ 03 đến 11 thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị.
Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Như vậy, trong Luật doanh nghiệp năm 2020 không còn quy định nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị mà chỉ quy định nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị. Bằng việc loại bỏ quy định về nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, Luật doanh nghiệp năm 2020 đã tác động lớn đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty.

4. Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ hay không?

"Một tranh chấp về quản trị nội bộ trong một công ty lớn tại Vỉệt Nam đã làm nảy sinh vấn đề trên. Theo đó, đây là một công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán . Trong nội bộ công ty chia thành hai nhóm cổ đông đối họng với nhau là cổ đông A sở hữu 43% và B sở hữu 40% cổ phần phổ thông. Vấn đề là trong việc bầu ra Hội đồng quản trị, mỗi lần tiến hành, công ty này chỉ bầu 1/3 số thành viên. Do đó, việc thay thế các thành viên Hội đồng quản trị (trong trường hợp bình thường, thành viên không bị bãi nhiệm hoặc từ chức đột xuất) khi thành viên hết nhiệm kỳ 5 năm theo quy định trong luật doanh nghiệp. Cũng vì thế mà cổ đông A cho rằng, Hội đồng quản trị của công ty này không có nhiệm kỳ, là không phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp hiện hành.
Vẩn đề:
Hội đồng quản trị có cần nhiệm kỳ hay không?
Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị và nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị có đồng nhất hay không?
Luật doanh nghiệp cũ quy định: '''‘Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm”. Nói một cách hình tượng, Hội đồng quàn trị như một cỗ máy, các thành viên Hội đồng quản trị là các chi tiết của cỗ máy đó. Theo đó, cỗ máy luôn có niên hạn sử dụng, giả sử là 10 năm, các chi tiết máy cũng có niên hạn theo niên hạn này. Tuy vậy, trong quá trình hoạt động có thể có một hoặc vài chi tiết máy bị hỏng. Cách xử lý trong trường hợp này rất đơn giản, chi cần thay thế các chi tiết máy hỏng. Như vậy, mặc dù cỗ máy có niên hạn sử dụng là 10 năm, các chi tiết máy thì có thể chỉ sử dụng được tối đa là 10 năm, nhưng cũng có thể ngắn hơn. Khi cỗ máy hết niên hạn sử dụng, các chi tiết máy tự thân nó không thể hoạt động độc lập nên nguyên tắc chung là người ta sẽ bỏ đi cùng với cái máy. Trong trường hợp có một chi tiết nào đó mới được thay gần đây, người chủ có thể giữ lại. Nhưng chi tiết này phải được gắn vào trong một cỗ máy khác để hoạt động đồng bộ trong cỗ máy mới.
Câu chuyện về tương quan giữa thành viên Hội đồng quàn trị và Hội đồng quản trị tương tự như giữa cỗ máy với các chi tiết vừa phân tích. Hội đồng quản trị là cỗ máy, còn thành viên Hội đồng quản trị là các chi tiết máy. Bởi thế khoản 1 Điều 109 Luật doanh nghiệp cũ quy định "Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm Cũng như cỗ máy là trong quá trình hoạt động, công ty vẫn có thể nâng cấp cỗ máy Hội đồng quản trị bằng việc thay thế một hoặc vài chi tiết thành viên. Nguyên tắc nâng cấp cỗ máy Hội đồng quản trị được Luật doanh nghiệp cũ quy định: “Trường hợp có thành viên được bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên bị miễn nhiệm, bãi nhiệm trong thời hạn nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ của thành viên đó là thời hạn còn lại của nhiệm kỳ Hội đồng quản trĩ'.
Trở lại tình huống ở trên, việc công ty chỉ bầu 1/3 thành viên Hội đồng quản trị cho mỗi lần và chỉ thay thế thành viên Hội đồng quàn trị khi thành viên hết nhiệm kỳ 5 năm là sai.
Vì cách làm này đã vô tình làm cho cỗ máy Hội đồng quản trị không còn niên hạn sử dụng là 5 năm theo quy định của Luật doanh nghiệp cũ.
Với việc nắm giữ 43% cổ phần phổ thông thì cổ đông A đang nắm một lợi thế lớn trong việc đề cử và bầu cử thành viên Hội đồng quản trị của công ty. Theo đó, cổ đông có quyền đề cử tối đa là 4 người trong cuộc bầu cử Hội đồng quản trị . Nếu A tìm được sự đồng thuận từ nhóm cổ đồng nhỏ còn lại, cơ hội để A kiểm soát Hội đồng quàn trị công ty là rất lớn. Tuy vậy, với cách thức bầu cử được áp dụng theo tỷ lệ 1/3 thành viên cho mỗi lần như được đề cập ở tình huống này khả năng này của A đã bị hạn chế rất nhiều.
Trong điều kiện A là một cổ đông ngoại có tiềm lực tài chính lớn, có nhiều nghi vấn liên quan đến chuyện A đang thực hiện chiến lược thôn tính công ty. Khi muốn vươn lên một vị trí/ quy mô lớn hơn, con đường đại chúng hóa là con đường tất yếu. Do vậy, một khi nhà đầu tư đã chấp nhận đầu tư vào công ty theo quy định của pháp luật thì họ có quyền kiểm soát các khoản đầu tư của mình thông qua việc quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, đề cử và bầu người vào Hội đồng quản trị. Đây cũng là câu chuyện bình thường nhìn từ góc độ quàn trị công ty. Nếu cần bàn về việc “tự vệ” của các doanh nghiệp nội trước làn sóng thôn tính của các đối thủ ngoại, nó thuộc về chiến lược kinh doanh mà không liên quan đến pháp luật về quản trị.
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ hay không? Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 1-11-2013."
Việc loại bỏ nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp năm 2020 ảnh hưởng một cách rất căn bản đối với phương thức bầu dồn phiếu. Theo đó, bằng việc loại bỏ nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, các cổ đông lớn của công ty có thể lồại bỏ những lợi ích mà phương thức bầu dồn phiếu mang lại đối với cổ đông nhỏ bằng cách chia việc bầu thành viên Hội đồng quản trị thành nhiều lần. Quay trở lại ví dụ bầu thành viên Hội đồng quản trị ở trên . Giả sử các bên chia việc bầu 5 thành viên Hội đồng quản trị thành hai đợt:
Đợt 1 bầu 3 thành viên
Đợt 2 bầu 2 thành viên
vẫn dựa trên nguyên tắc bầu dồn phiếu là mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội đồng quản trị.
Kết quả của đợt 1 là:
Nhiệm kỳ hội đồng quản trị ltrong công ty cổ phần là bao nhiêu năm theo luật mới?
Bản chất của bầu dồn phiếu nằm ở khả năng dồn các phiếu bầu. Nhưng bằng việc chia thành nhiều đợt bầu thành viên, việc dồn phiếu này mất đi tính hiệu quả. Nhìn vào kết quả của đợt 1, dù cho cổ đông thứ 3 có dồn như thế nào, nhưng vì chỉ dồn được quá ít, nên ứng cử viên D do họ đề cử vẫn chi được tỷ lệ là 33. Cách làm cũng được tiến hành tương tự cho đợt 2.
Như vậy, rõ ràng với sự thay đối này, các cổ đông lớn có thể chia nhỏ việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, qua đó loại bỏ lợi ích cùa phương thức bầu dồn phiếu trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê