1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu ?

Thưa luật sư, xin Luật sư có thể cho tôi biết: Bao nhiêu tuổi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ? Và tuổi nào sẽ phải chịu toàn bộ tội, tuổi nào được miễn ?
Rất mong Luật sư tư vấn, xin cảm ơn Luật sư!

Luật sư tư vấn:

Theo điều 12, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 có quy định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này."

Cụ thể:

+) Người từ đủ 16 tuổi sẽ chịu TNHS về mọi tội trừ các tội sau do yêu cầu về độ tuổi của người thực hiện hành vi phải đủ 18 tuổi:

Điều 145 (Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 146 (Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi); Điều 147 (Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm); Điều 325 (Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp); Điều 329 (Tội mua dâm người dưới 18 tuổi);

+) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

2. Tại sao người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi tại sao người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nhưng trong khi đó người đủ 14 đến 16 tuổi lại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ạ ?
Em xin cảm ơn.
Người gửi : Hoàng Thị Trang

Độ tuổi chịu trách nhiệm khi vi phạm hình sự ? tại sao người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm?

Luật sư tư vấn về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Vấn đề đặt ra về lý luận cần phải giải quyết, đó là vì sao người chưa đủ 14 tuổi lại không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra ? Khoa học luật Hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu là sự phát triển về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Người chưa đủ 14 tuổi về mặt sinh lý trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả nặng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự (loại trừ trách nhiệm hình sự).

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. do đó họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội do vô ý thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Nguyễn Thị H, 15 tuổi trong lúc ngồi chơi cùng các bạn do hiếu động nên đã rủ các đốt lá cây nhằm sởi ấm, không may ngọn lửa cháy mạnh nên đã cháy lan vào đống rơm nhà bà Nguyễn Thị B, sau đó ngọn lửa cháy vào cả trong nhà, làm gia đình bà B bị thiệt hại tài sản lên tới hơn 100 triệu đồng. Bà B yêu cầu khởi tố hình sự đối với A, nhưng xét thấy A chưa đủ 16 tuổi, lại do lỗi vô ý nên cơ quan điều tra đã không tiến hành khởi tố vụ án mà chuyển vụ án sang tòa dân sự để giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Công an xử phạt lỗi vi chạy quá tốc độ nhưng không chứng minh lỗi vi phạm có đúng luật ?

3. Đua xe trái phép khi chưa đủ 18 tuổi phạm tội gì ?

Cha tôi là người điều khiển xe 2 bánh trên đường về nhà bị 2 xe gắn máy đang đua xe trên đường. Xe trước đâm vào thì cha tôi mất tay lái, xe thứ 2 tiếp tục lao vào làm cha tôi tử vong. Người điều khiển xe thứ 1 là 16 tuổi. Thứ 2 là 17 tuổi. Còn người làm trọng tài cho cuộc đua này là và là người cho mượn xe để đua là 22 tuổi.
Vậy cho tôi hỏi, trong trường hợp này thì những đối tượng này sẽ bị xử lý ra sao?
Xin cảm ơn!

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu theo bộ Luật hình sự ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sư, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về trách nhiệm hình sự của hai người đua xe máy:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì có 2 người đua xe máy, gây ra cái chết cho bố bạn, một người 16 tuổi (tạm gọi là A), một người 17 tuổi (tạm gọi là B).

Căn cứ Khoản 1 Điều 12, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này."

Do đó, A, B vì đều đã đủ 16 tuổi trở lên nên dù là người chưa thành niên cũng phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.

Cũng qua các tình tiết bạn cung cấp, A đã có hành vi đua xe trái phép, đâm vào xe bố bạn, làm bố bạn bị mất tay lái. Nếu hành vi đâm vào xe bố bạn của A không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết cho bố bạn, mà hành vi này của A, khi đó, chỉ làm bố bạn mất tay lái thì trách nhiệm mà A phải chịu chỉ là bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đua xe trái phép. Nếu hành vi đâm vào xe bố bạn của A, làm bố bạn mất tay lái và hành vi đó còn gây thiệt hại sức khoẻ của bố bạn hoặc trước đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đua xe trái phép hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì căn cứ Khoản 1, Điều 266, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Điều 266. Tội đua xe trái phép

1. Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Bỏ chạy đtrốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

e) Tham gia cá cược;

g) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

h) Tại nơi tập trung đông dân cư;

i) Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tn thương thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Cũng theo thông tin mà bạn cung cấp, B đua trái phép xe máy, đâm vào xe bố bạn, là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết cho bố bạn. Do đó, hành vi của B đã cấu thành "Tội Đua xe trái phép" với tình tiết định khung tăng nặng "Gây thiệt hại cho tính mạng người khác" theo Điểm a, Khoản 2, Điều 266, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Do đó, B sẽ chịu hình phạt: bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

2. Về trách nhiệm hình sự của người tổ chức đua xe trái phép:

Ở đây, bạn có đề cập đến người làm trọng tài cuộc đua, cho mượn xe để đua này là một người đã thành niên. Điều 265, BLHS quy định về tội đua xe trái phép như sau:

Điều 265. Tội tổ chức đua xe trái phép

1. Người nào tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 04 năm đến 10 năm:

a) Tổ chức cho 10 xe tham gia trở lên trong cùng một lúc hoặc tổ chức 02 cuộc đua xe trở lên trong cùng một lúc;

b) Tổ chức cá cược;

c) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

d) Tại nơi tập trung đông dân cư;

đ) Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

e) Làm chết người;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhng người này từ 61% đến 121%;

i) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

k) Tái phạm về tội này hoặc tội đua xe trái phép.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhng người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

4. Chưa đủ tuổi thành niên phạm tội cướp tài sản xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư, người chưa thành niên phạm tội cướp tài sản thì xử lý thế nào ? Thưa Luật sư, người chưa thành niên phạm tội cướp tài sản thì xử lý thế nào ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản là gì ?

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của họ hoặc do họ quản lý.

Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản:

- Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội cướp tài sản có một trong các dấu hiệu sau:

Có hành vi dùng vũ lực: Là hành vi của người phạm tội dùng sức mạnh có tính vật chất (gồm sức mạnh thể chất và sức mạnh của vật chất là công cụ phương tiện phạm tội) tác động vào thân thể của người chủ tài sản (chủ sở hữu tài sản), hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc bất cứ người nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, làm cho những người đó không thể kháng cự lại hoặc làm tê liệt ý chí kháng cự hay khả năng kháng cự (như đâm chết…) của người đó để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Sức mạnh thể chất. Được hiểu là việc dùng sức mạnh của chính bản thân người phạm tội như dùng tay bóp cổ nạn nhân, dùng thế võ để khoá tay nạn nhân, dùng chân đá vào chỗ hiểm của nạn nhân…

Sức mạnh vật chất là công cụ phương tiện phạm tội: Được hiểu là người phạm tội đã sử dụng uy lực, tính năng tác dụng của công cụ phương tiện phạm tội để tác động vào thân thể nạn nhân như dùng dao đâm, dùng súng bắn… vào người nạn nhân.

Có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực: Đó là hành vi cụ thể của người phạm tội biểu hiện cho người bị tấn công biết rằng người phạm tội có thể sử dụng vũ lực (khi bắn, chém…) ngay tức khắc nếu người bị tấn công có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội nhằm làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị tấn công.

Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự: Được hiểu là hành vi mà người phạm tội có thể thực hiện thông qua cử chỉ, lời nói, thái độ, hoặc hành động khác với những thủ đoạn khác nhau (như cho uống thuốc mê, dùng vũ khí giả để uy hiếp…) với mục đích làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí kháng cự để chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm của dạng hành vi này, người phạm tội không tác động bằng sức mạnh vật chất vào người bị tấn công mà dùng các thủ đoạn tinh vi để tác động vào thể chất, tinh thần của người bị hại.

Lưu ý: Các hành vi nêu trên luôn và bao giờ cũng gắn liền với mục đích chiếm đoạt tài sản. Thông thường việc chiếm đoạt này luôn được thực hiện liền ngay sau khi thực hiện một trong các hành vi nói trên. Đây là điểm đặc thù của tội này. Tuy nhiện, hậu quả có xảy ra hay không (tức có lấy được tài sản hay không), giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà chỉ có ý nghĩa về định khung hình phạt. Đối tượng chiếm đoạt của hành vi cướp tài sản là tài sản của Nhà nước, của tổ chức, tài sản của công dân. Thực tế cho thấy tài sản đã bị chiếm đoạt trong tội cướp thường là vật, tiền hoặc giấy tò trị giá được bằng tiền, còn quyền tài sản hầu như chưa thấy xảy ra hoặc khó có thể là đối tượng chiếm đoạt của tội này. Đối với tài sản là vật thì thông thường bao giờ động sản (như tiền, vàng, xe máy…) cũng là đối tượng của tội cướp tài sản. Thời điểm hoàn thành của tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm (một trong các hành vi nêu ở mặt khách quan).

- Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước của tô chức và công dân. Ngoài ra còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của chủ tài sản, ngưòi quản lý tài sản hoặc người (bất cứ người nào) cản trở việc thực hiện tội phạm của kẻ phạm tội.

- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

- Chủ thể: Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

2. Độ tuổi của chủ thể chịu trách nhiệm tội cướp tài sản là như thế nào ?

Theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Đồi với người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

=> Như vậy có nghĩa là, người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản là người từ đủ 14 tuổi trở lên, do đó phải xác định cụ thể về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi để xác định người này có đủ yếu tố cấu thành tội hình sự hay không.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

5. Có nên giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay không ?

Thưa luật sư, hiện nay, số lượng người chưa thành niên phạm tội ngày càng tăng, như vậy, theo luật sư, với tư cách là một người học luật, am hiểu pháp luật, có nên giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự xuống hay không? Nếu giảm thì dựa trên những cơ sở nào? Còn không thì dựa trên cơ sở nào?
Xin cảm ơn! Người gửi: N.T Anh

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình s

1. Người từ đủ 16 tui trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2.6 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Tại sao nhà làm luật lại quy định như vậy ?

Con người không phải sinh ra đã có ngay năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) mà nó là khả năng tự ý thức của bản thân mỗi cá thể được hình thành trong quá trình phát triển về mặt tự nhiên và xã hội.

Như vậy, năng lực TNHS chỉ được hình thành khi con người đã đạt đến một độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm trừ một số trường hợp cá biệt mà Luật Hình sự quy định là không có năng lực TNHS.

Luật Hình sự một số nước trên thế giới dựa trên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lý cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình để quy định về độ tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và tuổi có năng lực TNHS đầy đủ. Mức tuổi cụ thể ở mỗi nước và có thể là ở mỗi thời điểm trong mỗi nước không hoàn toàn giống nhau.

Ở Việt Nam, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước khác, nhà nước ta đã quy định 14 tuổi là mức tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và 16 tuổi là mức tuổi có năng lực TNHS đầy đủ.

Hiện nay, ở nước ta nói riêng, số lượng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, có thể thấy người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tâm- sinh lý, sự nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, khả năng tự kiềm chế thấp dẫn đến dễ bị kích động, dụ dỗ và lôi kéo thực hiện những hành vi phạm tội.

Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương chính sách riêng đối với người chưa thành niên phạm tội. Chủ yếu nhằm vào mục đích răn đe, giáo dục bởi ở lứa tuổi này, ý thức phạm tội của họ chưa cao lại có xu hướng dễ uốn nắn và cải tạo. Chính vì vậy, theo quan điểm của cá nhân tôi, tôi cho rằng việc giảm độ tuổi chịu TNHS là không cần thiết vì đây không phải là biện pháp lâu dài để có thể giải quyết tận gốc vấn đề. Thay vào đó, chúng ta nên chú trọng hơn vào công tác giáo dục về mặt ý thức cũng như phổ biến, tuyên truyền những kiến thức pháp luật cơ bản cho người chưa thành niên để nâng cao nhận thức của họ.

Trên đây là những ý kiến, quan điểm của cá nhân. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông